Phụng Vụ Thánh Lễ

CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN NĂM C.

BÀI ÐỌC I: Gr 38, 4-6. 8-10

“Ngài đã sinh ra tôi làm người bất thuận sống trên vũ trụ”.

Bài trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Trong những ngày ấy, các thủ lãnh tâu vua rằng: “Chúng tôi xin bệ hạ cho lệnh giết người này, vì nó cố ý nói những lời làm lũng đoạn tinh thần chiến sĩ còn sống sót trong thành này và toàn dân. Thực sự tên này không tìm hoà bình cho dân, mà chỉ tìm tai hoạ”. Vua Sêđêcia phán rằng: “Ðấy nó ở trong tay các ngươi, vì nhà vua không thể từ chối các ngươi điều gì”.

Họ liền bắt Giêrêmia và quăng xuống giếng của Melkia con Amêlec, giếng này ở trong sân khám đường, họ dùng dây thả Giêrêmia xuống giếng. Giếng không có nước, chỉ có bùn, nên ông Giêrêmia sa xuống bùn. Abđêmêlech ra khỏi đền vua và đến tâu vua rằng: “Tâu bệ hạ, những người này chỉ toàn làm những điều ác đối với tiên tri Giêrêmia, họ ném ông xuống giếng cho chết đói dưới đó, vì trong thành hết bánh ăn”.

Vậy vua truyền dạy Abđêmêlech người Êthiôpi rằng: “Hãy đem ba mươi người ở đây theo ngươi, và kéo tiên tri Giêrêmia ra khỏi giếng trước khi ông chết”.

Ðó là lời Chúa.

ÐÁP CA: Tv 39, 2. 3. 4. 18

Ðáp: Lạy Chúa, xin cấp tốc trợ phù con (c. 14b).

1) Tôi đã cậy trông, tôi đã cậy trông ở Chúa, Người đã nghiêng mình về bên tôi, và Người đã nghe tiếng tôi kêu cầu.

2) Người đã kéo tôi ra khỏi hố diệt vong, khỏi chỗ bùn nhơ; Người đã đặt chân tôi trên đá cứng, và đã làm vững bước chân tôi.

3) Và Người đã đặt trong miệng tôi một bài ca mới, bài ca mừng Thiên Chúa chúng ta; nhiều người đã chứng kiến và tôn sợ, và họ sẽ cậy trông vào Chúa.

4) Phần con, khốn khổ cơ bần, nhưng mà có Chúa ân cần chăm nom. Người là Ðấng phù trợ và giải thoát con, ôi lạy Chúa, xin Ngài đừng chậm trễ.

BÀI ÐỌC II: Dt 12, 1-4

“Chúng ta hãy kiên quyết xông ra chiến trận đang chờ đợi ta”.

Bài trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, cả chúng ta, chúng ta cũng có một đoàn thể chứng nhân đông đảo như đám mây bao quanh, chúng ta hãy trút bỏ tất cả những gì làm cho chúng ta nặng nề và tội lỗi bao quanh chúng ta.

Chúng ta hãy cương quyết xông pha chiến trận đang chờ đợi ta. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào Ðức Giêsu, Ðấng khơi nguồn đức tin và làm cho nó nên hoàn tất; vì trông mong niềm vui đang chờ đón mình, Người đã chịu khổ giá, bất chấp sự hổ thẹn, và rồi lên ngự bên hữu ngai Thiên Chúa.

Anh em hãy tưởng nghĩ đến Ðấng đã liều thân chịu cuộc tấn công dữ dội của những người tội lỗi vào chính con người của Ngài, ngõ hầu anh em khỏi mỏi mệt mà thất vọng.

Vì chưng, trong khi chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa đến nỗi phải đổ máu.

Ðó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 8, 12

All. All. – Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống”. – All.

PHÚC ÂM: Lc 12, 49-53

“Thầy không đến để đem bình an, nhưng đem sự chia rẽ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất.

Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ.

Vì từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng”.

Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM: 1

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”. 

Chúng ta biết nhiều loại ánh sáng: ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn pin đèn điện, ánh sáng đèn dầu đèn cầy. Cả những ánh sáng tinh vi như tia hồng ngoại, tia X. Tất cả chỉ soi sáng cho chúng ta thấy hình dáng bên ngoài của sự vật hay sự việc. Chúa Giêsu không nói đến làn ánh sáng vật chất này.

Làn ánh sáng mà Chúa Giêsu đem đến thế gian đó là làn ánh sáng phát xuất từ trái tim. Làn ánh sáng của yêu thương tha thứ. Làn ánh sáng của hy sinh quên mình. Làn ánh sáng của đỡ nâng chia sẻ. Và làn ánh sáng của xóa tan hận thù. Những làn ánh sáng này sẽ giúp chúng ta nhận ra mọi người là anh chị em của mình.

Và Chúa Giêsu đã mang ánh sáng này xuống trần gian. Người nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”. Lời ước mong của Chúa thật tha thiết. Lời ước mong của Chúa có pha chút ngậm ngùi. “Phải chi lửa ấy đã bùng lên” có nghĩa là lửa ấy chưa bùng lên cao, chưa lan ra xa!

Thế giới vẫn còn chiến tranh. Con người vẫn chưa nhìn nhận nhau là anh chị em. Sống đức tin nhưng chúng ta vẫn chưa biết tha thứ như Chúa dạy. Vẫn cạnh tranh. Vẫn đố kỵ. Vẫn còn để bóng tối bao trùm trái tim, cuộc đời.

Hôm nay Chúa tha thiết kêu gọi chúng ta: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”. Vậy chúng ta hãy khơi cho ngọn lửa yêu thương của Chúa bừng lên để đẩy lui bóng tối của chiến tranh, chia rẽ, hận thù. Hãy biết để ánh sáng yêu thương được ban phát, mà xóa đi bóng tối của nhỏ nhen, ích kỷ. Hãy để cho ánh sáng của ngày mới giúp chúng ta đi vững vàng trong quên mình và ánh sáng rực rỡ phát xuất từ chính trái tim chan hòa tình yêu thương của chúng ta.

Lạy Chúa, xin đốt lên trong trái tim chúng con ngọn lửa yêu thương của Chúa, và xin hãy dẫn chúng con biết đi trên con đường yêu thương ấy. Amen. 

*Giáo Phận Phú Cường

Suy Niệm: 2 Ánh sáng và bóng tối

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Một đạo sĩ Ấn Độ hỏi các đệ tử: “Này các con, các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất hiện không?”. Các môn đệ thi nhau trả lời. Có người hỏi: “Thưa Thày, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện là khi mà nhìn một đoàn vật từ xa người ta có thể phân biệt được con nào là con bò, con nào là con trâu không?”. Thày lắc đầu: “Không phải”. Một đệ tử khác lại hỏi: “Thưa Thày, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui, là khi từ xa nhìn vào vườn cây người ta có thể phân biệt cây nào là cây xoài, cây nào là cây mít không?”. Thày vẫn lắc đầu. Không đệ tử nào trả lời được câu hỏi. Lúc đó, đạo sĩ mới từ từ nói: “Đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui là khi nhìn vào mặt nhau, người ta nhận ra nhau là anh em”.

Thật kỳ lạ. Chúng ta đã biết nhiều loại ánh sáng như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ánh sáng đèn điện, đèn pin, ánh sáng đèn dầu, đèn cầy. Cả những ánh sáng tinh vi như tia hồng ngoại, tia X. Tất cả chỉ soi sáng cho thấy sự vật như nó là. Không có ánh sáng nào soi vào mặt một người xa lạ có thể biến người đó thành anh em mình cả. Thứ ánh sáng ấy ở đâu?

Mẹ Têrêxa có thể trả lời câu hỏi này. Một hôm, Mẹ ghé thăm một người đàn ông tội nghiệp. Ông sống trong một túp lều tồi tàn, lụp xụp. Bên trong lều là cả một bãi rác mênh mông. Mùng mền, chăn chiếu, quần áo hỗn độn, rách nát và hôi hám. Nhà cửa, đồ đạc phủ một lớp bụi dầy. Thế mà ông lão tự giam mình trong đống rác ấy. Ông ghét bỏ mọi người nên không lui tới với ai. Ông sống cô độc. Mẹ Têrêxa và các chị vào chào ông. Ông làm thinh không đáp. Thấy căn lều hỗn độn, bụi bặm, các chị xin phép ông dọn dẹp, ông không trả lời. Mặc kệ! Các chị cứ bắt tay vào dọn dẹp, xếp đặt, lau chùi. Thấy trong góc lều có một cây đèn, mẹ Têrêxa lấy ra lau chùi. Chùi sạch lớp bụi, mẹ kêu lên: “Ồ, cây đèn đẹp quá!”. Ông lão bỗng lên tiếng: “Đó là cây đèn tôi tặng vợ tôi nhân dịp đám cưới”. – Ông không thắp đèn lên sao?”. – Không, từ khi vợ tôi qua đời, tôi không bao giờ thắp đèn”. – Thế ông có muốn chúng tôi tới thăm ông mỗi ngày và thắp đèn cho ông không?”. Thấy các nữ tu tử tế, ông đồng ý. Từ đó, mỗi chiều các chị đều ghé thăm, truyện trò và thắp đèn cho ông. Dần dà, ông trở nên vui vẻ yêu đời. Ông nói chuyện cởi mở với các nữ tu. Ông đi lại thăm viếng hàng xóm. Mọi người đến với ông. Căn lều hiu quạnh trở lại ấm áp. Trước kia, căn lều tăm tối không phải vì ông không thắp đèn, nhưng vì ngọn lửa trong trái tim ông lịm tắt. Nay căn lều sáng lên niềm vui không phải vì ánh sáng ngọn đèn dầu, nhưng vì ánh sáng trong trái tim ông bừng lên. Trước kia ông thù oán, xa lánh mọi người vì ánh lửa trong trái tim tàn lụi. Nay nhờ các nữ tu nhen nhúm, ngọn lửa trong trái tim ông bừng lên và ông cảm thấy tha thiết yêu mến mọi người và mọi người cũng tha thiết yêu mến ông.

Thứ ánh sáng kỳ diệu ấy phát xuất từ trái tim. Ánh sáng ấy ta thấy thấp thoáng khắp các trang sách Tin Mừng. Khi người xứ Samaria nhân hậu cúi xuống băng bó vết thương cho người bị nạn, ánh sáng bừng lên. Hai người xa lạ nhìn vào mặt nhau và nhận ra nhau là anh em.

Chúa Giêsu mang ánh sáng này xuống trần gian. Và Người ước mong cho ngọn lửa yêu thương cháy bừng lên soi sáng cho thế giới: “Thày đã đến ném lửa vào trái đất, và Thày những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Lời ước mong thật tha thiết nhưng có pha lẫn ngậm ngùi. Phải chi lửa ấy đã bùng lên có nghĩa là lửa ấy chưa bùng lên cao, chưa lan ra xa.

Thật vậy, nhìn vào tình hình thế giới, chiến tranh không lúc nào ngơi. Thế kỷ 20 đã biết đến hai cuộc thế chiến với biết bao thiệt hại về người về của và nhất là về tình đoàn kết. Trong thập niên 80, chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông-Tây chấm dứt, người ta tưởng rằng giấc mơ hoà bình thế là đã thành sự thật. Nhưng không, chiến tranh vẫn tiếp diễn ở Rwanda, Kosovo, ở Trung Đông… ánh sáng vẫn chưa soi tới những vùng chiến tranh. Bóng tối hận thù vẫn còn vây phủ. Những người anh em vẫn còn chém giết nhau.

Nhìn vào bản thân mình, ta thấy trong ta cũng còn nhiều vùng mà ánh sáng Tin Mừng chưa soi dọi tới. Trong lòng ta vẫn còn những ngõ ngách chứa đầy bóng tối ghen ghét, hận thù. Nên ta nhìn ra chung quanh mà ít gặp được anh em mình.

Lời Chúa hôm nay tha thiết kêu gọi ta. Hãy khơi cho ngọn lửa yêu thương bừng sáng lên. Hãy đẩy lùi bóng tối chiến tranh, chia rẽ, hận thù. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận và ban phát yêu thương, xoá đi những nhỏ nhen, ích kỷ. Để mọi người nhìn nhau là anh em thực sự. Bấy giờ đêm mới tàn và ngày mới bắt đầu. Bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, ánh sáng rực rỡ phát xuất từ những trái tim chan hoà yêu thương.

Lạy Chúa, xin hãy nhóm lên trong trái tim con ngọn lửa yêu thương của Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Bạn đang sống trong ánh sáng hay bóng tối?

2) Bạn có muốn góp phần đem ánh sáng của Chúa đi gieo rắc khắp nơi không?

3) Bạn bắt đầu chiếu sáng bằng cách nào?

 Suy Niệm: 3

”Phải chi lửa ấy đã bùng lên!”–Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Báo Tuổi Trẻ trong bài “Một cái chết bắt đầu cho sự sống” đã viết về anh Nguyễn Đức Minh như sau:

“… Vật vã với cơn đau ngày càng tăng, từ đầu năm anh tìm đến khoa giải phẫu của Trường Đại Học Y Dược rồi về nhà lập tờ di chúc, trong đó chỉ có 3 điều ước mong: hiến xác, đề nghị gia đình không làm đám tang lớn để lấy tiền giúp người khốn khó và dành những vật dụng riêng gồm máy đánh chữ, cassette, ampli, dụng cụ học tập của Câu lạc bộ Bừng Sáng. Chị hai của Đức Minh cho biết: “Em tôi lo gia đình không thực hiện lời hứa nên đã bắt cha mẹ ký xác nhận cho xác em mới chịu lên bàn mổ. Trước khi mổ, em còn dặn bác sĩ viện trưởng có gì thì đưa xác em đi ngay để gia đình khỏi đổi ý…”

Mong ước của anh Minh giúp chúng ta phần nào nhận ra được những khao khát của Chúa Giêsu trước khi bước vào cuộc Thương Khó: “Thầy ước mong phải chi lửa ấy cháy bùng lên!” Chính Đức Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Ngài: Ngài đến để ném lửa trên măt đất, và Ngài ước mong phải chi Lửa ấy đã bùng lên. Ngọn lửa Đức Giêsu muốn nhóm lên không phải là ngọn lửa của án phạt và huỷ diệt, không phải là thứ lửa từ trời mà Gioan và Giacôbê định xin đổ xuống trên một làng của xứ Samari. Đây là ngọn lửa vẫn bừng cháy trong tim Ngài, lửa Thánh Thần, lửa của yêu thương, lửa hâm nóng hai môn đệ trên đường Emmau đang tuyệt vọng.

Ngọn lửa ấy, có lẽ rất cần chạm đến cuộc đời chúng ta. Vì cuộc đời quanh ta vẫn còn đó những bóng tối của đọa đầy, của bất công. Vì cuộc đời quanh ta vẫn còn đó những người đang thất vọng chán chường. Phải chi ngọn lửa của Đức Kitô luôn được thắp sáng nhờ những người môn đệ của Chúa. Những con người luôn làm cho ngọn lửa ấy mãi bừng cháy lên trong thế giới quanh ta.

Vâng, sự trăn trở và ước mong cho ngọn lửa ấy bừng lên dường như vẫn đang là lời mời gọi thiết tha mà Chúa muốn nơi chúng ta: “Phải chi lửa ấy đã bừng lên!” Chúa vẫn mời gọi chúng ta thực hiện niềm ước mong mà Chúa đã suốt đời ôm ấp, đó là làm cho thế giới trở nên ấm áp hơn, cho con người biết sống cho nhau và vì nhau. Cho con người biết lấy lưỡi gươm mà rèn nên lưỡi cầy. Cho công lý ngự trị và hoa bác ái nở rộ tràn lan trên mặt đất.

Nhưng, để có thể gieo rắc ngọn lửa và ánh sáng, là phải chấp nhận bị khước từ và đe doạ. Chính Chúa khi còn tại thế đã linh cảm những gì xảy ra cho đời mình. Chúa sẽ phải chịu một phép rửa kinh khủng, sẽ phải dìm mình thật sâu trong nỗi khổ đau của cô đơn phản bội.

Hôm nay, Chúa lại mời gọi chúng ta ném lửa trên mặt đất và chấp nhận đối đầu với sức mạnh của bóng tối:

Bóng tối của bất công, sa đoạ và tuyệt vọng.

Bóng tối của hận thù, cục bộ và chia rẽ.

Bóng tối của nghèo nàn và lạc hậu.

Bóng tối ở ngay trong lòng mình.

Đôi khi bóng tối quá dày đặc mà ngọn lửa của chúng ta lại qúa yếu ớt, khiến chúng ta cảm thấy sợ hãi. Nhưng sau đêm dài là ánh bình minh. Sau gian khó hy sinh là những ngày gặt hái tươi vui. Như Chúa khi bị treo trên thập tự giá. Khi bị giam trong mồ. Bóng tối tưởng như đã nuốt chửng được Chúa, nhưng ngọn lửa Phục sinh đã bừng lên giữa đêm đen.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn can đảm thắp sáng ngọn lửa yêu thương giữa đêm đen của ích kỷ hận thù hôm nay. Xin cho ánh lửa tình yêu của chúng ta mãi lan toả đến tận cùng trái đất. Amen.

Giữ lửa yêu thương

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Có một bài hát thật phũ phàng về tình yêu mà sao vẫn được nhiều người hát: “tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề nuối tiếc”. Phải chăng con người ngày nay hay thay đổi và muốn thay đổi? Phải chăng con người ngày nay không còn khả năng giữ ngọn lửa tình yêu để rồi nó vội cháy, vội tàn? Và có thật với lòng mình tình yêu đến và đi không hề nuối tiếc?

Thực ra tình yêu khởi phát từ con tim, tình yêu sẽ xoáy vào tim qua thời gian thì làm sao khi mất nó lại không làm ta đau lòng? Yêu và mất chắc chắn sẽ là nỗi quặn đau trong trái tim con người. Điều quan trọng là hãy biết giữ lửu yêu thương. Hãy biết chăm chút cho tình yêu từng ngày qua từng nghĩa tử quan tâm, chăm sóc vỗ về lẫn nhau. Nhưng đáng tiếc, người ta thích nhóm lửa tình yêu mà lại không đủ kiên nhẫn để gìn giữ nên dễ tàn lụi theo thời gian.

Người ta nói rằng, nhìn một đôi trả tiền trong quán ăn, có thể biết quan hệ của họ. Nếu người đàn ông trả tiền, thì họ là tình nhân. Còn ngược lại, khi đàn bà trả tiền – đó là vợ chồng. Khi còn yêu nhau, họ quấn quýt hết giờ hết buổi, mà vẫn thấy thời gian trôi nhanh như chớp mắt. Cưới nhau, thời gian là vô tận, nhưng có những ngày chẳng ai nói với nhau câu nào, thậm chí cả câu chào cũng không!

Nguyên nhân chình là ngọn lửa tình thiếu chăm sóc nên cũng nguội dần theo thời gian. Ngọn lửa ấy phải được thắp sáng mãi mới có thể mang lại mái ấm gia đình ngập tràn hạnh phúc hân hoan. Nếu tình yêu không được hun nóng từng ngày thì gia đình sẽ lạnh vắng cô đơn.

Chúa Giêsu khi vào trần gian Ngài cũng ném ngọn lửa yêu thương vào cuộc đời. Ngọn lửa ấy Ngài đã thắp lên trên cây thập tự là biểu tượng cho mọi tình yêu bất diệt trên thế gian. Ngọn lửa Đức Giêsu muốn nhóm lên không phải là ngọn lửa của án phạt và hủy diệt, không phải là thứ lửa từ trời mà Gioan và Giacôbê định xin đổ xuống trên một làng của xứ Samari. Đây là ngọn lửa vẫn bừng cháy trong tim Ngài, lửa Thánh Thần, lửa của yêu thương, lửa hâm nóng hai môn đệ trên đường Emmau đang tuyệt vọng. Lửa dẫn lối cho những ai đang lạc lối và hun nóng cho những mảnh đời lạnh giá của cô đơn, thất vọng.

Ngọn lửa yêu thương của Chúa ném vào thế gian vẫn mong được bừng cháy trong thế giới hôm nay. Lửa yêu thương cần phải luôn thắp sáng trong mỗi gia đình. Ngọn lửa ấy cần được lan tỏa trong mọi môi trường của cuộc sống. Vì nếu con người cần cơm bánh để sống còn, thì họ cũng cần tình thương để tồn tại. Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm. Nếu lòng hai môn đệ Em mau đã bừng cháy lên khi nghe Lời Chúa, thì nhân loại hôm nay cũng cần nghe lời yêu thương cảm thông để thoát khỏi những u sầu, tuyệt vọng trong cuộc sống.

Thế nên, người ky-tô hữu cần phải giữ ngọn lửa yêu thương trong trái tim mình. Đừng để sự ích kỷ, dối gian dập tắt ngọn lửa yêu thương trong tim mình. Hãy thắp sáng ngọn lửa yêu thương trong lòng mình. Đừng dập tắt ngọn lửa ấy bằng đam mê lười biếng, bằng ích kỷ tham lam. Đừng dập tắt hy vọng, niềm tin nơi tha nhân khi chúng ta đối xử thiếu tình yêu.

Ước mong nơi các gia đình hãy theo lời Chúa mà giữ mãi ngọn lửa yêu thương. Ước mong các gia đình hãy để cho ngọn lửa tình yêu Chúa chiếm hữu để nhờ đó gìn giữ gia đình luôn rộn ràng niềm vui và hân hoan. Amen.

 Suy niệm: 4 “THẮP LÊN NGỌN LỬA SOI SÁNG THẾ GIAN”

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh

Bài Phúc Âm Chúa Nhật XX Mùa Thường Niên Năm C Hậu Phục Sinh hôm nay hình như không có liên hệ gì đến chủ đề chung của Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh là thời điểm Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô tiếp tục tỏ mình trên thế gian cho đến tận thế ra qua chứng từ Giáo Hội của Người. Chắc có lẽ vì thế, vì không hợp với chủ đề chung của mùa phụng vụ như thế, nên bài Phúc Âm này cũng chẳng ăn khớp gì với các bài Phúc Âm trước hay sau tuần này, vì bài Phúc Âm tuần trước nói về việc các môn đệ cần phải “thắt lưng” và “thắp đèn lên sẵn sàng”, và bài Phúc Âm tuần tới liên quan đến vấn nạn “Phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?”. Còn đối với hai bài đọc trong phần Phụng Vụ Lời Chúa Năm C hôm nay, bài đọc một có hơi dính dáng với bài Phúc Âm một chút, về vụ tiên tri Giêrêmia bị thù địch âm mưu sát hại, và bài đọc hai cũng thế, có liên quan mờ mờ với bài Phúc Âm, ở chỗ, bài đọc hai này huấn dụ Kitô hữu hãy vững mạnh trong Chúa Kitô. Thật vậy, bài Phúc Âm theo Thánh Luca hôm nay chỉ có 4 câu vắn vỏi song lại bao gồm những 3 ý tưởng rất mâu thuẫn nhau: thứ nhất là ước nguyện của Chúa Kitô muốn lửa Người mang xuống thế gian “được bùng cháy lên”; thứ hai là mục đích của Người tuy nhiên khi đến thế gian Người lại không phải “để đem bình an” mà là “chia rẽ”; thứ ba là hậu quả tất yếu không thể tránh của việc Người gây chia rẽ là cảnh xã hội bị hỗn loạn “một nhà sẽ chia rẽ nhau”. Bởi thế, để có thể đả thông vấn đề vừa có vẻ mâu thuẫn với sứ vụ của Chúa Kitô lại vừa có vẻ lạc đề phụng vụ của bài Phúc Âm hôm nay, theo tôi, chúng ta cần phân tích kỹ các vấn đề sau đây: Thứ nhất, “lửa” Chúa Kitô mang xuống thế gian như Người nói thực sự là gì? Thứ hai, Chúa Kitô đã làm cách nào để thắp lên ngọn lửa này như lòng Người mong ước? Thứ ba, Chúa Kitô có thắp lên được ngọn lửa này không, nếu có thì lửa này có tác dụng ra sao?

1. “Lửa” Chúa Kitô mang xuống thế gian như Người nói thực sự là gì?

Để có thể hiểu được ý nghĩa đích thực về “lửa” Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây, trước hết, chúng ta hãy nhớ hai điều liên quan đến “lửa” này: Thứ nhất, “lửa” này là “lửa” được Người mang xuống từ trời, chứ thế gian không thể nào tự mình có sẵn thứ “lửa” trời này, và thứ hai, “lửa” này chỉ có một mình Người là Đấng mang nó xuống thế gian mới có thể đốt nó lên được thôi, vì “không ai đã lên trời, trừ một mình Đấng từ trời xuống là Con Người” (Jn 3:13). Thật ra, con người đã được thấy trước hình ảnh của thứ “lửa” trời này trong Mạc Khải Cựu Ước, và trong Mạc Khải Tân Ước con người còn được chính “lửa” trời này thiêu đốt nữa. Trước hết, con người được thấy trước thứ “lửa” bởi trời này trong Mạc Khải Cựu Ước ở bụi gai cháy mà không bị thiêu rụi, qua thị kiến của Moisen, như được thuật lại trong Sách Xuất Hành ở đoạn 3 câu 2. Theo tôi, bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi này, và từ bụi gai bốc lửa ấy lại có tiếng Thiên Chúa phán, như câu 4 cùng đoạn sách này ghi nhận, là Mạc Khải về Thiên Chúa Ba Ngôi cũng là Mạc Khải về Bản Tính Hằng Hữu của Thiên Chúa, đúng như Danh Thánh Ngài đã tỏ cho Moisen biết ngay sau đó ỏ cùng đoạn 3, câu 14: “Ta là Đấng hiện hữu”.

Hình ảnh bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi lại có tiếng Thiên Chúa phán ra từ đó thực sự là một cuộc Thần Hiển cho thấy Mạc Khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, ở chỗ: “Bụi gai” biểu hiệu cho “Lời đã hóa thành nhục thể” (Jn 1:14) và Vượt Qua nơi con người của Đức Giêsu Kitô; “lửa” bốc lên nơi bụi gai là biểu hiệu cho Thánh Linh, Đấng là Quyền Năng Đấng Tối Cao đã thực hiện việc Lời Nhập Thể, như Phúc Âm Thánh Luca ghi nhận ở đoạn 1 câu 35; và tiếng phán ra từ “bụi gai” biểu hiệu cho Chúa Cha, như Ngài thường tỏ mình ra bằng tiếng phán từ trời trong trường hợp Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa ở sông Dược Đăng, hay bằng tiếng phán ra từ đám mây trong trường hợp Chúa Giêsu biến hình trên núi (xem Mt 3:17; 17:5). Hình ảnh bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi lại có tiếng Thiên Chúa phán ra từ thực sự là một cuộc Thần Hiển, chẳng những cho thấy Mạc Khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, mà còn là Mạc Khải về cả Thiên Chúa Hằng Sống nữa, ở chỗ, “bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi” biểu hiệu Chúa Kitô tử giá được Thánh Linh làm cho sống lại từ trong cõi chết, như Thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Rôma đoạn 8 câu 11 xác tín, Đấng Phục Sinh “được toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt. 28:18), Đấng tông đồ Tôma chân nhận và tuyên xưng là “Chúa (và là) Thiên Chúa” (Jn 20:28), Thiên Chúa hằng sống.

Như thế, “lửa” được Chúa Kitô mang xuống từ trời đây là chính Thánh Linh hay là “quyền lực từ trên cao” (Lk 24:49) các tông đồ lãnh nhận trong Ngày Lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem. Đúng vậy, như trên đã nhận định, “trong Mạc Khải Tân Ước con người còn được chính ‘lửa’ trời này thiêu đốt nữa”, vào chính lúc Thánh Thần hiện xuống dưới hình lưỡi lửa đậu trên đầu từng vị tông đồ sau tiếng động như gió thổi mạnh lùa vào đầy nhà nơi các tông đồ đang tụ họp, như Sách Tông Vụ thuật lại ở đoạn 1 câu 2 và 3. Chính vì “lưỡi” biểu hiệu cho việc truyền thông hay truyền đạt là sứ vụ của Vị Thần Chân Lý được Chúa Kitô từ Cha sai đến với Giáo Hội để làm chứng cho Người (xem Jn 15:26), và “lửa” biểu hiệu cho “quyền lực từ trên cao” xuống bao phủ các tông đồ, như đã bao phủ Mẹ Maria trong ngày truyền tin để Mẹ có thể thụ và hạ sinh Con Đấng Tối Cao (xem Lk 1:35), mà các tông đồ cũng đã truyền đạt, tức hạ sinh Chúa Kitô nơi tâm hồn của “khoảng ba ngàn ngư ời” (Acts 2:41), nhờ bài giảng tiên khởi (cách truyền thông) của Vị Trưởng Tông Đồ Phêrô sau khi “được đầy Thánh Linh” (Acts 2:4).

2. Chúa Kitô đã làm cách nào để thắp lên ngọn lửa này như lòng Người mong ước?

Nếu “’lửa’ được Chúa Kitô mang xuống từ trời đây là chính Thánh Linh hay là ‘quyền lực từ trên cao’ (Lk 24:49) các tông đồ lãnh nhận trong Ngày Lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem”, như vừa nhận định, thì Chúa Kitô đã làm cách nào để thắp lên ngọn lửa này như lòng Người mong ước? Thật vậy, Người được Cha sai “đến thế gian là để làm chứng cho chân lý”, như Người tuyên bố với tổng trấn Philatô trong Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 18 câu 37 bằng chính cuộc Vượt Qua của Người. Thế nhưng, nếu không có Thánh Linh được Người thông ban cho các tông đồ sau khi sống lại từ trong cõi chết (xem Jn 20::22), các vị sẽ không thể nào nhận biết Người, cũng như nếu không có “quyền lực từ trên cao” xuống chiếm đoạt các vị, các vị cũng sẽ vĩnh viễn không thể nào thông truyền Người ra cho nhân loại. Bởi thế, việc Chúa Kitô Vượt Qua hay việc Người ra đi chính là việc Người thắp lên “Lửa” Thánh Linh, đúng như lời Người minh phán với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 16 câu 7: “Thày nói thật với các con là: Thày đi thì tốt hơn cho các con. Nếu Thày không đi, Đấng Phù Trợ sẽ không bao giờ đến với các con; bằng nếu Thày đi, Thày sẽ sai Ngài đến với các con”. Đó là lý do, ngay trong bài Phúc Âm hôm nay, sau khi nói đến việc mang lửa xuống thế gian và mong ước cho lửa ấy được thắp lên, Chúa Giêsu đã nói ngay đến cuộc tử giá của Người: “Thày phải chịu một phép rửa, và lòng Thày bồn chồn biết bao cho đến khi hoàn tất”. Mà “phép rửa” Người phải chịu đây là gì, nếu không phải là việc chính Người sẽ được rửa trong Thánh Linh, như hình ảnh Thần Hiển trong Sách Xuất Hành đã cho thấy về bụi gai bốc lửa, trước khi “Người”, như Vị Tiền Hô Gioan tiên báo ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 1 câu 34, “chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh”.

3. Chúa Kitô có thắp lên được ngọn lửa này không, nếu có thì lửa này tác dụng như thế nào?

Như thế, Chúa Kitô quả thực đã thắp lên được Lửa Thánh Linh do Người mang xuống từ trời bằng cuộc ra đi hay Vượt Qua của Người. Và Lửa Thánh Linh này, trước hết, được Chúa Kitô thắp lên nơi các tông đồ sau khi Người sống lại từ trong cõi chết và “làm phép rửa trong Thánh Linh” cho các vị qua hơi thở của Người, và sau đó, Lửa Thánh Linh này lại được chính các tông đồ là những chứng nhân tiên khởi của Người thắp lên trên “khắp thế gian” (Mk 16:15) “cho đến tận cùng trái đất” (Acts 1:8), sau khi các vị được “mặc lấy quyền lực từ trên cao” ở Giêrusalem trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. Cũng chính vì Lửa Thánh Linh đã thực sự được thắp lên trên thế gian mà thế gian mới xẩy ra tình trạng như Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay: “Từ nay, năm người trong một nhà chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba: cha nghịch với con trai, con trai nghịch với cha; mẹ nghịch với con gái, con gái nghịch với mẹ; mẹ chồng nghịch với nàng dâu và nàng dâu nghịch với mẹ chồng”. Thật vậy, hạnh các thánh đã cho chúng ta thấy điều này, điển hình là trường hợp Thánh Phanxicô khó khăn (1182-1226) đối với vị thân phụ của mình, ông thương phú gia Pietro di Bernardone, khi thánh nhân trao trả cho ông mảnh vải cuối cùng trên thân thể của thánh nhân trước mặt Đức Giám Mục, để có thể hoàn toàn tự do theo Chúa Kitô; hay như trường hợp của Thánh Nữ Jeanne de Chantal (1572-1641) đã nhất quyết bước qua thân thể của Celse-Benigne, đứa con trai 15 tuổi của mình, đứa con nhất định ngăn cản ý định của mình trong việc theo Chúa v.v. Tại sao lại xẩy ra tình trạng gia đình chia rẽ nhau vì Chúa như vậy? Chính Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ lý do sâu xa của tình trạng không phải “bình an” mà là “chia rẽ” Người gây ra chỉ vì Lửa Thánh Linh do Người từ trời mang xuống thắp lên trên thế gian này. Lý do đó là, như Người xác định trong Phúc Âm Thánh Gioan ở đoạn 16 từ câu 8 đến 11 về Đấng Phù Trợ sẽ đến khi Người ra đi: “Khi Ngài đến, Ngài sẽ chứng tỏ cho thế gian thấy rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về công chính và về luận phạt. Về tội lỗi ở chỗ họ đã không chịu tin vào Thày; về công chính, vì Thày về cùng Cha nên các con không còn thấy Thày nữa; về luận phạt, vì vương chủ thế gian này đã bị lên án”. Lịch sử Giáo Hội đã cho thấy hết sức hiển nhiên sự thật này, qua việc thế gian sai lầm về tội lỗi, ở chỗ, vì không tin Người nên đã ra tay bách hại các chứng nhân của Chúa Kitô Phục Sinh, thành phần công chính ở chỗ, đã dám liều mạng sống mình để làm chứng cho đức tin vào Đấng Vô Hình, để rồi, máu chứng từ của các ngài đã hùng hồn lên án quyền lực sự dữ, tức càng ngày càng đẩy lui bóng tối tăm sự chết, bằng “ánh sáng thế gian” (Jn 8:12) là Chúa Kitô, cho đến khi Người lại đến trong vinh quang.

Như thế, nếu bài Phúc Âm Chúa Nhật XX Mùa Thường Niên Năm C hôm nay nói về Lửa Thánh Linh thì ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay vẫn hoàn toàn ăn khớp với chủ đề chung của Phụng Vụ Mùa Thư ờng Niên Hậu Phục Sinh vậy.

Vấn đề thực hành sống đạo: Con Thiên Chúa Làm Người đã thực sự “Thắp Lên Ngọn Lửa Soi Sáng Thế Gian” được Người mang xuống từ trời bằng cuộc Vượt Qua của Người. Và “Lửa” Người thắp lên đây là Thánh Thần Người thông ban cho các tông đồ khi Người sống lại từ trong cõi chết, cũng là Vị Thánh Thần Người đã từ Cha sai xuống trên Giáo Hội vào Ngày Lễ Ngũ Tuần ở Giêrusalem sau khi Người Thăng Thiên về trời. “Lửa” Thánh Linh này từ đó đã được các Vị Tông Đồ Chứng Nhân Tiên Khởi cũng như các Vị Chứng Nhân Đức Tin Tông Truyền châm vào lòng người trên khắp thế giới bằng việc truyền giáo của các vị. Được thắp lên “Lửa” Thánh Linh khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Kitô hữu chúng ta có “cảm thấy lòng mình nóng lên” (Lk 24:32) chưa? Nếu chưa, chúng ta phải làm sao để thực hiện đư ợc bản chất Kitô hữu của mình “là ánh sáng thế gian” (Mt 5:14)?

 Suy Niệm: 5 Bình an chỉ có khi sự thật lên ngôi

Giuse Vinc. Ngọc Biển

Tin mừng Lc 12:49-53: Đức Giêsu chuyển sang một hướng khác, một đề tài liên quan trực tiếp đến sứ mạng và chương trình cứu độ của Ngài, khi loan báo về cuộc thương khó cũng như cái chết.

Nếu Tin Mừng Chúa Nhật 18, Đức Giêsu kêu gọi hãy dùng tiền của bất chính để mua lấy Nước Trời để được hạnh phúc thật, và Chúa Nhật 19, Ngài nhấn mạnh đến thái độ “sẵn sàng”; “tỉnh thức” để đón chờ Chúa đến trong ngày Quang Lâm…, thì Chúa Nhật 20 này, Đức Giêsu chuyển sang một hướng khác, một đề tài liên quan trực tiếp đến sứ mạng và chương trình cứu độ của Ngài, khi loan báo về cuộc thương khó cũng như cái chết.

Bài Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần:

Phần I, Đức Giêsu muốn nói đến sứ mạng Thiên Sai của Ngài;

Phần II, Ngài tiên báo về những hệ lụy do sứ mạng của Mình mang lại.

1. Sứ mạng Thiên Sai của Đức Giêsu

Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế, Ngài đến để cứu độ con người, nhưng Ngài cứu độ không bằng quyền bính, mà bằng chính cái chết của mình để cứu độ nhân loại. Thật thế, qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ biết về sứ mạng của Mình: “Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất”.

Phép rửa mà Đức Giêsu muốn nói ở đây chính là sự thương khó và cái chết của Ngài. Đồng thời những ai muốn bước theo Ngài thì cũng phải đón nhận phép rửa như Ngài đã chịu, tức là từ bỏ ý riêng, để vâng theo ý Chúa, sẵn sàng hy sinh và chấp nhận cả cái chết để sống và làm chứng về những giá trị Tin Mừng.

Phép rửa và sứ mạng ấy, Đức Giêsu mong muốn cho mau đến: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên” Ngọn “Lửa” ấy chính là Chúa Thánh Thần. Người đến để thanh luyện những tâm hồn sỏi đá, phân biệt sự thật và giả dối, Người đến còn là để xét xử trần gian.

Ngọn “Lửa” ấy cũng chính là ngọn “Lửa” của Tình yêu, Sự Thật, Công Bình.

Như vậy Đức Giêsu ao ước cho “Lửa” ấy bùng cháy lên để biến đổi trái đất này thành Trời mới Đất mới, những tâm hồn trai cứng thành mềm dẻo, biết yêu thương nhau, nâng đỡ và đồng hành với nhau để làm chứng cho Chúa trong sự thật, để yêu thương anh chị em như anh em một nhà.

Làm được điều đó là chúng ta đã đi vào trong quỹ đạo của Thiên Chúa, một quỹ đạo của sự thật, yêu thương, bình an và hoan lạc.

Nhưng để đạt được điều đó thật không dễ, bởi vì nó đòi hỏi ta phải sẵn sàng chấp nhận hy sinh, thử thách, đau thương; phải chấp nhận hủy mình ra không để thánh ý Thiên Chúa được thể hiện, chấp nhận hủy diệt bản thân mình như hạt lúa gieo vào lòng đất, tức là chấp nhận cái chết: chết đi cho con người cũ là con người tội lỗi, để thay vào đó là một con người mới, tâm hồn mới và thái độ mới theo hình ảnh của Đức Kitô.

2. Những hệ lụy của đời chứng nhân

Sau khi đã nói về sứ mạng của Mình, Đức Giêsu muốn đi xa hơn để tiên báo về những hệ lụy sẽ xảy đến cho cuộc đời của người môn đệ, Ngài nói: “Các con tưởng rằng Thầy đến đem hòa bình cho trần gian? Thầy bảo cho các con biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12,49.51). Mới nghe, chúng ta có cảm tưởng rất nghịch lý và mâu thuẫn nội tại. Tức là mâu thuẫn với chính Đức Giêsu, bởi vì Ngài được mệnh danh là “Hoàng Tử Hòa Bình”, hơn nữa, Ngài đến để đem bình an cho nhân loại! Ấy vậy mà hôm nay, Ngài lại bảo: tôi đến để đem chia rẽ? Nhưng không! Qua câu nói đó, Đức Giêsu muốn cho chúng ta hiểu một cách sâu xa hơn rằng: con đường bình an của Ngài là con đường hy sinh, của từ bỏ; con đường của sự chết vì chân lý. Và, muốn có được bình an thì phải đi trên con đường đó, để làm chứng cho sự thật, bảo vệ cho công lý, và xây dựng hòa bình. Chính Đức Giêsu cũng chỉ vì sự thật mà phải chết. Ngài không bị kết án vì đã dạy cho con người sống tốt; Ngài cũng không bị kết án vì đã làm ơn cho kẻ khác; nhưng Ngài bị kết án chỉ vì dám nói, sống và làm chứng về sự thật.

Như vậy, bình an của Chúa chỉ có thể đến được với những người có tâm hồn thật thà, ngay thẳng, biết lắng nghe, và thực hành Lời Chúa. Bình an của Đức Giêsu không phải là một thứ bình an theo kiểu người đời trao tặng cho nhau, cũng không phải là một thứ bình an làm cho con người ngủ mê… Nhưng bình an của Đức Giêsu đem đến cho nhân loại chính là thứ bình an chỉ có được qua hy sinh, được tôi luyện bằng những thử thách, và được lớn lên trong khuôn khổ thập giá.

Quả thật, hôm nay, lời của Đức Giêsu như là một lời tiên tri cho chính Ngài và sứ vụ của các môn đệ: sẽ có nhiều người chống đối vì họ không thể chấp nhận và thay đổi. Họ không muốn sống theo sự thật. Vì thế, ngay trong gia đình cũng luôn xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng vì có người theo và có người không theo; sẽ xảy ra những sự chia rẽ giữa những người tin và những người không tin: “Năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng”. Qua câu nói này, Đức Giêsu muốn dạy rằng: bình an chỉ có thể có khi sự thật, công lý được lên ngôi.

3. Bình an chỉ có được khi sự thật được tôn trọng

Tuy nhiên, trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta không dám nói lên sự thật chỉ vì chúng ta sợ mất lòng và bị người ta ghét bỏ. Hơn nữa, có khi chúng ta lại còn đứng về phía bất công để kết án những người lương thiện chỉ vì họ sống thật thà với một lương tâm ngay thẳng.

Trong buôn bán, có nhiều kẻ ghét những người buôn bán thật thà; người hay nói dối (nổ) thì lại ghét những người nói thật…trong gia đình, những đứa con hay nịnh bợ thì lại được cha mẹ yêu hơn, còn những đứa con thật thà thì lại không được yêu…

Nhưng là Kitô hữu, chúng ta muốn được bình an thực sự của Chúa, chúng ta không có con đường nào khác, đó là con đường thập giá, con đường của chính Đức Giêsu đã đi. Khi đứng về phía sự thật, là chúng ta chấp nhận những hệ lụy như chính Đức Giêsu đã chịu. Hậu quả đó có thể do ghen tức, trục lợi, hoặc chỉ vì dám nói lên những điều ngay thẳng… Đọc chuyện các thánh Tử Đạo Việt Nam chúng ta thấy rất rõ điều này: có những đấng bị chính con cái tố cáo, bỏ tù chỉ vì ghen ghét; có những đấng bị bắt chỉ vì người nhà, bạn bè, học trò ham tiền, trục lợi… Khi bị bắt rồi, các ngài không chịu nói dối để được tha, thậm chí còn nhân cơ hội ấy để nói và làm chứng cho vua chúa quan quyền thời bấy giờ về sự thật, thế nên các ngài đã phải đón nhận cái chết như một sự trả lẽ cho sự thật.

Như vậy, muốn có hòa bình thực sự là khi và chỉ khi chúng ta đã quyết liệt chiến đấu để lựa chọn. Hòa bình chỉ có được khi nó thực sự tách biệt khỏi gian dối, hận thù và ghen tương; tách bóng tối ra khỏi ánh sáng nhờ ngọn “Lửa” của Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu đã ban xuống cho nhân loại.

Mong sao, tâm tư của Đức Giêsu sớm được thực hiện trên trần gian này: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên”.

Lạy Chúa, xin giúp cho chúng con hiểu rằng: muốn có được bình an đích thực là chúng con phải từ bỏ con đường tội lỗi, hận thù và ghen ghét; đồng thời phải can đảm sống và làm chứng cho sự thật, một sự thật toàn vẹn. Ước gì ngọn lửa của tình yêu, sự thật và lòng mến thiêu đốt tâm hồn chúng con, để tâm hồn chúng con được bình an và đáng hưởng sự sống vĩnh cửu trong cuộc sống mai hậu. Amen.

Suy Niệm: 6 Lửa tình yêu

Huệ Minh

Chúa Giêsu đem lửa xuống trần gian và lửa ấy chính là bản thân Ngài và Phúc Âm của Ngài. Ngài đã rao giảng Tin Mừng để soi chiếu cho những người còn ngồi trong bóng tối sự chết, để sưởi ấm cho những tâm hồn giá băng cũng như để thiêu huỷ mọi tội lỗi của nhân loại.

Nói đến lửa, ai cũng biết tầm quan trọng và công dụng của nó là sáng, nóng, sưởi ấm, đốt cháy, thiêu hủy. Ai trong chúng ta cũng cần lửa. Lửa rất có ích lợi, nhưng cũng rất nguy hiểm. Nó dùng để nấu nướng thức ăn và chế biến nhiều thứ khác, nhưng nó cũng có thể đốt cháy nhà cửa và thiêu rụi tài sản của chúng ta. Vì thế, đâu đâu cũng có sở cứu hỏa, sở chữa cháy, và nhắc nhở chúng ta đề cao cảnh giác: phòng cháy, chữa cháy, đừng đùa giỡn với lửa.

Trong cái nhìn của thánh Luca, lửa mà Chúa Giêsu muốn làm bùng lên trên toàn cầu, chắc là thứ lửa của Phép Rửa trong Thánh Thần (Cv 1,5). Lửa này đã ngự xuống từng người vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,3).

Lễ Ngũ Tuần quả là Phép Rửa trong lửa, nhưng đó mới chỉ là một khai mở ban đầu. Còn cần vô số những lễ Ngũ Tuần khác trên thế giới.

Ngọn lửa Chúa Giêsu muốn nhóm lên không phải là ngọn lửa của án phạt và hủy diệt, không phải là thứ lửa từ trời mà Gioan và Giacôbê định xin đổ xuống trên một làng của xứ Samari. Đây là ngọn lửa vẫn bừng cháy trong tim Ngài, lửa của Thánh Thần, lửa của yêu thương, lửa hâm nóng hai môn đệ Emmau đang tuyệt vọng.

Chúa Giêsu đem lửa xuống trần gian và lửa ấy chính là bản thân Ngài và Phúc Âm của Ngài. Ngài đã rao giảng Tin Mừng để soi chiếu cho những người còn ngồi trong bóng tối sự chết, để sưởi ấm cho những tâm hồn giá băng cũng như để thiêu huỷ mọi tội lỗi của nhân loại.

Chúa Giêsu mang ánh sáng này xuống trần gian. Và Người ước mong cho ngọn lửa yêu thương cháy bừng lên soi sáng cho thế giới: “Thày đã đến ném lửa vào trái đất, và Thày những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Lời ước mong thật tha thiết nhưng có pha lẫn ngậm ngùi. Phải chi lửa ấy đã bùng lên có nghĩa là lửa ấy chưa bùng lên cao, chưa lan ra xa.

Thật vậy, nhìn vào tình hình thế giới, chiến tranh không lúc nào ngơi. Thế kỷ 20 đã biết đến hai cuộc thế chiến với biết bao thiệt hại về người về của và nhất là về tình đoàn kết. Trong thập niên 80, chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông-Tây chấm dứt, người ta tưởng rằng giấc mơ hoà bình thế là đã thành sự thật. Nhưng không, chiến tranh vẫn tiếp diễn ở Rwanda, Kosovo, ở Trung Đông… ánh sáng vẫn chưa soi tới những vùng chiến tranh. Bóng tối hận thù vẫn còn vây phủ. Những người anh em vẫn còn chém giết nhau.

Ngọn lửa bên trong Chúa Giêsu không chỉ là sự thanh khiết tuyệt đỉnh trong tâm hồn và sự tự do thiêng liêng thượng đẳng. Loài người hằng cố gắng đạt tới cao độ thanh khiết và tự do ấy, chúng ta thấy trong lịch sử hoặc xung quanh chúng ta có những cố gắng biểu lộ một tấm lòng thật sự cao quý. Nhưng điều mà Chúa mang đến không phải là thành quả nỗ lực nhân loại. Đây là một điều gì từ cõi cửu trùng ban xuống, thấm đượm con người. Bài tường thuật về sáng tạo cũ bắt đầu bằng câu: Lúc khởi nguyên. Lịch sử cuộc đời Đức Kitô mở đầu bằng một câu tương tự: Lúc khởi nguyên đã có Đức Giêsu Kitô. Điều này đúng cho toàn bộ lịch sử nhân loại do Đức Kitô đảm nhiệm, và pahỉ đúng cho mỗi Kitô hữu. Cuộc đời mỗi Kitô hữu đều có một khởi điểm là Đức Giêsu Kitô. Chúng ta nói thêm, nếu Chúa có ở lúc bắt đầu, tất phải có ở lúc giữa và lúc kết thúc.

Ngọn lửa bên trong Chúa Giêsu phải thấm đượm điều gì tốt nhất trong chúng ta, khiến nó thành vững chắc, lâu bền, trong sạch. Chúng ta biết, trong Chúa chúng ta tiến lên đời sống siêu nhiên, – do đó chúng ta rút ra những hệ luận thực tiễn. Yêu thương anh em, ra sức hoạt động cải thiện thế giới, vẫn chưa đủ – xả thân cho hạnh phúc nhân loại, vẫn còn thiếu, vì chung cục có gì là chắc? Chỉ còn lại cái Bước đầu như trên là cần, nhưng phải tiến xa hơn nữa. Phải yêu mến Đức Kitô, sống Đức Kitô. Theo mức độ ân huệ nhận được, Kitô hữu có trách nhiệm làm cho tình yêu của Đức Kitô hiện diện trong thế giới. Kitô hữu phải tin chắc điều này: Thế giới cần được ơn trên soi sáng để hiểu rõ tại sao có mình, hơn là cứ mỗi thế kỷ lại nêu ra không biết bao tham vọng mỗi lần dưới một bộ mặt đổi khác, muốn tự tổ chức thành thiên đường hạ giới, mơ tưởng xây dựng một thiên đường tình yêu. Kitô hữu phải đóng góp vào những nỗ lực cải thiện thế giới, có trách nhiệm lái những nỗ lực ấy theo phương hướng Chúa muốn.

Chúa Giêsu đem ngọn lửa xuống trần gian. Ngọn lửa tình yêu vĩnh cửu bốc cháy trong trái tim Ngài. Khi hiến mạng sống cho con người chỉ vì quá yêu thương con người, Ngài đã châm ngọn lửa yêu thương vào lòng con người. Và Ngài thốt lên với tất cả nỗi lòng khắc khoải: “Thầy đã đến đem lửa xuống trần gian. Nào Thầy có mong muốn gì hơn là mong cho lửa ấy cháy bùng lên”. Cháy bùng lên, không phải để rồi tắt ngấm. Nhưng cháy lên để tiếp tục cháy mãi.

Chúa Giêsu đem lửa yêu thương đến trần gian và Ngài mong muốn ngọn lửa ấy bùng cháy lên. Đó là tâm nguyện của Chúa và cũng là trách nhiệm của mỗi người chúng ta. Nếu con người cần cơm bánh để sống, thì họ cũng cần tình yêu để tồn tại. Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm. Nếu con người muốn được bình an để vui sống, thì chỉ có tình thương mới đáp ứng được ước muốn đó. Đó là bổn phận của chúng ta.

Và rồi chúng ta hãy nhớ: “Không ai có thể cho người khác cái mình không có”, nghĩa là chỉ khi nào ngọn lửa yêu thương thực sự sáng lên nơi mỗi người chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong cộng đoàn chúng ta, trong Hội thánh chúng ta thì chúng ta mới có thể loan báo và đem tình yêu thương đến cho những người khác.

Mỗi Kitô hữu chúng ta đều đã được Chúa Kitô châm ngọn lửa tình yêu của Ngài vào lòng. Ngọn lửa tình yêu ấy cần phải được chăm sóc, giữ gìn và làm cho cháy sáng hơn mãi.

Chúa Kitô đã đem lửa tình yêu để thiêu đốt, thanh luyện những thứ bình an, hiệp nhất giả tạo che đậy những bogn1 tối tội lỗi, Ngài là con người gây xáo trộn, gây chia rẽ; bởi vì Ngài luôn luôn là ánh sáng áng chiếu soi vào trong bóng tối. Ngài muốn cho trong lòng mọi người đều bùng cháy lên ngọn lửa tình yêu nhiệt thành của Ngài để đổi mới, để sống cho cái mới mà Ngài gọi là Nước Trời. Phải đấu tranh mãi để thế giới luôn tốt hơn, con người luôn hạnh phúc hơn. Người Kitô hữu không bao giờ được phép bằng lòng với nguyên trạng, cho dù trong đạo hay ngoài đời, bởi vì tất cả đều phải tiến đến Trời Mới Đất Mới.

Ta xin Chúa khơi cho ngọn lửa yêu thương bừng sáng lên. Hãy đẩy lùi bóng tối chiến tranh, chia rẽ, hận thù. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận và ban phát yêu thương, xoá đi những nhỏ nhen, ích kỷ. Để mọi người nhìn nhau là anh em thực sự. Bấy giờ đêm mới tàn và ngày mới bắt đầu. Bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, ánh sáng rực rỡ phát xuất từ những trái tim chan hoà yêu thương.

Bước theo Đức Kitô trên đường Thập Giá

Huệ Minh

Trang sách Giêrêmia mà ta vừa nghe thật gay cấn.

Vua xứ Giuđa bấy giờ đã tuyên thệ phục tùng vua Babylon trước mặt Thiên Chúa. Nhà tiên tri coi lời thề đó như thánh ước vì đã lấy Danh Ðức Giavê mà thề. Do đó, khi vua Giuđa và hàng khanh tướng có ý đồ bội ước, phản lại vua Babylon và cầu cạnh vua Ai Cập, thì nhà tiên tri phải lên tiếng. Ông tố cáo sự lật lọng của nhà Giuđa đối với Thiên Chúa là Ðấng luôn trung thành.

Lẽ dĩ nhiên ông đã lợi dụng cơ hội này để kể hết các bội phản của dân thất ước. Ông bực mình nhất vì thái độ giả hình của họ. Họ cứ vỗ ngực xưng mình là dân của Chúa đang khi không ngớt vứt bỏ lệnh truyền của Người. Họ căn cứ vào việc Chúa đã chọn họ làm dân ưu tuyển, để luôn cư xử bất công với mọi dân khác, coi dân ngoại chỉ như bàn đạp cho họ tiến lên.

Giêrêmia chống đối thái độ giả đạo đức và tự phụ khinh người ấy. Ông luôn nhắc nhở phải trở về với Thiên Chúa và biết rằng Người coi trọng các dân tộc. Nhưng những lời ông nói đều bị bỏ ngoài tai. Vua Giuđa tiến hành ý đồ phản lại Babylon. Nước này đem quân xuống đánh, vây chặt thủ đô Giêrusalem. Giêrêmia cũng bị nằm trong vòng vây.

Và như vậy, Giêrêmia đã trở thành ngôn sứ đặc biệt của Ðức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Cuộc đời của ông báo trước cuộc Tử nạn của Người. Ông là một trong đoàn thể chứng nhân đông đảo bao quanh chúng ta, trong cuộc đời đầy phấn đấu hiện nay.

Cuộc đời của Giêrêmia rất đỗi éo le. Nói đúng hơn, từ ngày Thiên Chúa đặt lời của Người trong miệng ông để ông làm ngôn sứ, tuyên bố các phán quyết của Người thay cho chính Người, Giêrêmia đã trở thành tường đồng cự lại cả xứ, cự lại các vua Giuđa và hàng khanh tướng. Ngay hàng tư tế cũng tuyên chiến với ông (x. chương 1). Chẳng phải tại ông bướng bỉnh. Ngược lại, ông luôn cảm thấy mình chỉ là một đứa trẻ. Nhưng Lời Chúa đã ập xuống trên ông, bắt ông đứng dậy tuyên sấm cho dân phản loạn. Họ đã chối bỏ mạch nước hằng sống để đào cho mình bể rò không chứa được nước (2,13).

Thân phận của Giêrêmia là như vậy. Thân phận của Chúa Giêsu chắc có lẽ cũng giống thân phận đau khổ của Giêrêmia.

Sau khi đã nói về sứ mạng của Mình, Đức Giêsu muốn đi xa hơn để tiên báo về những hệ lụy sẽ xảy đến cho cuộc đời của những người tin và theo Ngài, Ngài nói: “Các con tưởng rằng Thầy đến đem hòa bình cho trần gian? Thầy bảo cho các con biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12,49.51).

Chúa Giêsu đang tiến về Giêrusalem để đi vào cuộc Thương Khó; tâm hồn Người khắc khoải. Chỉ qua cuộc Khổ Nạn–Phục Sinh, ơn cứu độ mới được ban cho loài người. Nhận ra được điều này, chúng ta được mời gọi bỏ đi những phương tiện dễ dãi, những phương tiện to lớn chúng ta đang dùng để bảo đảm mọi phương diện cuộc sống chúng ta. Ngoài ra, nếu muốn đốt lên trên trái đất một ngọn lửa như Đức Giêsu đã nhen lên, chúng ta không thể tránh né “phép rửa” Đức Giêsu đã chịu, tức phải chấp nhận đi qua con đường tự hiến, thất bại, chấp nhận hiến tặng cuộc sống chúng ta.

Thập giá chỉ là một phát minh độc ác của con người để hủy hoại nhau; mãi mãi thập giá vẫn là biểu tượng sự độc ác của con người. Nếu Chúa Giêsu đã ôm trọn Thập giá, thì không phải vì Ngài yêu sự độc ác, tự đày đọa mình, nhưng chính là để thể hiện tình yêu tột độ của Thiên Chúa. Dù con người có độc ác, xấu xa đến đâu, Thiên Chúa vẫn yêu thương, tha thứ cho họ. Chiến thắng của Chúa Kitô chính là chiến thắng của tình yêu trên hận thù, của ân sủng trên tội lỗi, của niềm tin trên thất vọng.

Cái chết của Chúa, cuộc thương khó của Ngài, đó là Phép Rửa mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong đoạn Tin Mừng hôm nay: “Thầy còn một Phép Rửa phải chịu”. Chúng ta nhớ trên đường lên Giêrusalem để thực hiện cuộc vượt qua trong đau thương, hai môn đệ Giacôbê và Gioan nhờ mẹ mình đến xin Chúa Giêsu cho được ngồi bên tả, bên hữu Chúa và Chúa Giêsu đã có phản ứng như sau: “Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có uống nổi chén Thầy sắp uống hay chịu được Phép Rửa Thầy sắp chịu hay không? Chén Thầy uống các con cũng sẽ uống và Phép Rửa Thầy chịu các con cũng sẽ chịu”.

Chúa Kitô cũng được gọi là Vua, vai trò của Ngài chính là võ trang và chuẩn bị chiến đấu, nhưng khí giới Ngài trang bị cho mình là cái chết trên Thập giá. Chính khi bị treo trên Thập giá, Ngài đã được tôn phong là Vua Do thái. Chúa Giêsu cũng là Vua, vì Ngài đã đánh bại Satan, tội lỗi. Con đường vương giả Ngài đã vạch ra cũng chính là con đường Thập giá. Chúng ta không thể làm môn đệ Ngài, không thể đi theo Ngài, không thể tham dự cuộc chiến của Ngài, mà lại khước từ Thập giá.

Ta đang trên đường lên Giêrusalem, nơi Đức Giêsu sẽ được đưa lên cao. Sau khi mời gọi phải tỉnh thức, được minh họa bằng dụ ngôn người quản lý khôn ngoan trong Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, giờ đây Đức Giêsu nói với những ai theo Người ba lời về thử thách, có ý nói đến những nguy hiểm của cuộc phiêu lưu theo Người: Số phận của người môn đệ sẽ không khác gì Thầy mình.

Ta tiếp tục đi theo con đường của Chúa Kitô; chúng ta tiếp tục đau khổ vì tin rằng bên kia những thất bại, khổ đau, tình yêu Thiên Chúa vẫn còn mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Chúng ta đón nhận mọi bách hại, thù ghét, thua thiệt, vì tin rằng chỉ có tình yêu mới có thể thắng vượt được ích kỷ, hận thù trong lòng con người.

Xin Chúa Kitô ban sức mạnh để chúng ta bước theo con đường Thập giá dẫn đến vinh quang.

Suy Niệm: 7 NGỌN LỬA TÌNH YÊU

Suy niệm

Con người cần cơm bánh để sống còn, nhưng cũng cần tình yêu thương để tồn tại và phát triển; cần áo quần để che thân, nhưng phải có tình yêu thương để sưởi ấm và an vui cõi lòng. Tình yêu thương là động lực và là mục đích của đời sống con người. Người ta có thể chấp nhận sự nghèo khó, túng bấn, nhưng không thể sống thiếu tình thương. Biết thế nhưng sự băng giá của lòng người vẫn tồn tại khắp nơi. Điều đáng nói là nếu sự băng giá đó lại nằm trong tâm hồn người Kitô hữu chúng ta, là những con người có sứ mạng đem lại ngọn lửa yêu thương để sưởi ấm cho đời thì đáng buồn biết mấy.

Trước một thế giới âm u và băng giá của lòng người, Đức Giêsu đã“đến ném lửa vào mặt đất”, không phải ngọn lửa của án phạt và hủy diệt, nhưng là ngọn lửa tình yêu vẫn bừng cháy trong tim Ngài, ngọn lửa của Thánh Thần đã làm bừng sáng trí khôn các tông đồ ngày lễ Ngũ Tuần. Chính vì tình yêu mà Đức Giêsu ao ước được chịu một phép rửa là cuộc thương khó và tử nạn, để chuộc tội nhân loại chúng ta. Cái chết vì yêu thương đã biến thành ngọn lửa phục sinh, đem lại cho chúng ta sự sống muôn đời. Và Ngài ao ước “Phải chi lửa ấy đã bùng lên!”.

Ngọn lửa ấy đã có tự ngàn đời nơi Thiên Chúa, Đấng đã sáng tạo muôn loài vì yêu thương, Đấng vẫn che chở dân Ngài dù họ phản nghịch: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11, 8). Ngọn lửa ấy đã từng nung nấu trái tim của Giêrêmia (x. Gr 20,7-10), thúc bách ông phải nói lời Chúa dạy cho dân, thúc giục ông cảnh cáo tội của dân, dù bị họ ghét bỏ và tìm cách sát hại (x. Gr 38,4-6).

Đức Giêsu mong ước cho ngọn lửa yêu thương bùng lên, nhưng Ngài lại cho biết:“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?…  không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.”. Tại sao có sự nghịch lý như thế? Thật ra, sứ mạng của Đức Giêsu đã từng được tiên báo và được tuyên bố là một sứ mạng Hòa bình (Is 9,5tt; Dcr 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15). Ngài đến thế gian chỉ vì sự bình an và hợp nhất nhân loại. Nhưng thực tế cho thấy là Ngài đã gặp chống đối. Lời rao giảng của Ngài đã gây chia rẽ giữa những người tin và không tin, vì Ngài mà “từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba” (Lc.12,52). Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi, nhưng điều đó lại khiến những người biệt phái chống lại Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào của cải đời này, mà hãy tìm kiếm Nước Trời, tuy lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho người giàu nổi giận, thù hận. Đúng như lời cụ già Simêon đã tiên báo: trẻ nhỏ này sẽ làm duyên cớ cho nhiều người ngã xuống hay đứng lên, và còn là dấu hiệu cho người đời chống báng (x. Lc 2, 24).

Có sự chia rẽ là vì hòa bình Đức Giêsu mang đến không phải là thứ hòa bình theo kiểu thế gian, do đường lối chính trị hay tổ chức xã hội bên ngoài. Hòa bình đích thực phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình. Đó là hòa bình được xây dựng trên công lý, một nền công lý mà người ta phải đấu tranh, phải xả thân để chống lại tội lỗi và sống theo Tin Mừng của Đức Giêsu. Không có hòa bình này thì mọi thứ hòa bình khác đều là tạm bợ, có khi là giả trá, hoặc có nguy cơ là thứ hòa bình do sự thỏa hiệp hay đồng lõa với sự dữ.

Thế giới vẫn luôn có những xung đột và chia cắt: giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, giữa lành và dữ, giữa thật và giả, giữa ma quỉ và Thiên Chúa. Ngay trong mỗi người vẫn có những bất đồng, mâu thuẫn và chia rẽ nội tâm: Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7, 19). Không chỉ có sự phân rẽ trên bình diện cá nhân, xã hội, mà còn ngay trên bình diện tôn giáo, đau lòng hơn nữa là ngay trong Giáo Hội của Đức Kitô. Thánh thiện và tội lỗi vẫn là sự phân cực trong từng giây phút của đời sống, đòi ta phải lựa chọn. 

Để đáp lại nguyện ước của Chúa Giêsu là làm lan tỏa ngọn lửa Ngài đã nhóm lên, ta không thể tránh né “phép rửa” mà Ngài đã chịu, tức phải chấp nhận đi qua tình trạng đau thương và thất bại, để hiến tặng cuộc sống mình với tất cả tình yêu. Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã cảm nhận tình yêu như sau:“Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh”. Khơi lên ngọn lửa tình yêu của Chúa Giêsu từ lòng mình và làm lan tỏa ngọn lửa đó là sứ mạng của đời chúng ta.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu!
Chúa đã đến ném lửa vào mặt đất,
là chính tình yêu của Thánh Thần,
để lan tràn đến khắp mọi thế nhân,
lửa thanh tẩy và tinh luyện tâm can,
lửa sưởi ấm lòng người đang giá lạnh,
chiếu soi đời còn cô quạnh tối tăm.

Chúa ao ước lửa ấy sáng bùng lên,
cho tình yêu thắng vượt trên tất cả,
nên Chúa mong chịu phép rửa từ Cha,
là tự hiến dâng trao mạng sống mình,
làm hy tế để giao hòa nhân thế,
và cứu vớt con người khỏi bến mê.

Nhưng Chúa đến không hẳn mang hòa bình,
mà trước tiên đòi con người thay đổi,

phải chọn giữa ánh sáng và bóng tối,
nghĩa là tin hoặc từ chối không tin.

Chọn Chúa con đối đầu với sự dữ
là những thứ làm tha hóa con người,
để làm cho đời sống được đẹp tươi,
từ đó mới thật sự có hòa bình.

Xin Chúa hãy đốt nóng trái tim con,
bằng ngọn lửa của chính tình yêu Chúa,
lửa Thánh linh chiếu soi vào tâm trí,
đổi tâm tình và suy nghĩ của con.

Cho con dám can đảm chịu thiệt thân,
để lửa tình yêu Chúa lan tỏa dần,
đem lại cho gian trần sự sống mới,
như Chúa từng mong ước mãi không ngơi,
và làm cho Nước Trời thêm rộng mở,
cho con người được muôn thuở an vui. Amen.

Lm. Thái Nguyên

*Xin bấm vào đọc Kinh Phụng Vụ.

*Xin bấm vào nghe chia sẽ Lời Chúa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: