Phụng Vụ Thánh Lễ

CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG NĂM A.

Ngày 18 tháng 12

Ngày 18 tháng 12

BÀI ĐỌC I: Is 7, 10-14

“Này trinh nữ sẽ thụ thai”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Ngày ấy, Chúa phán bảo vua Achaz rằng: “Hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi, một dấu ở dưới lòng đất hay ở trên trời cao!” Nhưng vua Achaz thưa: “Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử thách Chúa”.

Và Isaia nói: “Vậy hãy nghe đây, hỡi nhà Đavít, làm phiền lòng người ta chưa đủ ư, mà còn muốn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa? Vì thế, chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 23, 1-2. 3-4ab. 5-6

Đáp: Chúa ngự qua, chính Ngài là Hoàng Đế hiển vinh (x. c. 7c và 10b).

1) Chúa là chủ trái đất và mọi vật làm sung mãn nó, chủ địa cầu và muôn loài cư trú ở trong. Vì chính Ngài xây dựng nó trên biển cả, và Ngài giữ vững nó trên chỗ nước nguồn.

2) Ai khá trèo lên cao sơn của Chúa, ai được đứng trong nơi thánh của Ngài? Người tay vô tội và lòng thanh khiết, người không để lòng xu hướng bả phù hoa.

3) Người đó sẽ được Chúa chúc phúc cho, và được Thiên Chúa là Đấng cứu độ ban ân thưởng. Đó là dòng dõi người tìm kiếm Chúa, người tìm long nhan Thiên Chúa nhà Giacóp.

BÀI ĐỌC II: Rm 1, 1-7

“Đức Giêsu, thuộc dòng dõi vua Đavít, là Con Thiên Chúa”.

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Phaolô, tôi tớ Chúa Giêsu Kitô, đã được kêu gọi làm Tông đồ và đã được tuyển chọn để rao giảng tin mừng Thiên Chúa. Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Đavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần, đã sống lại từ cõi chết. Đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, để nhân danh Người, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về Đức Tin, trong đó có cả anh em là những người mà Chúa Giêsu đã kêu gọi.

Tôi chúc tất cả mọi người trong thành Rôma được Thiên Chúa yêu mến và kêu gọi nên thánh, được ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Đức Giêsu Kitô là Chúa chúng ta.

Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Mt 1, 21

All. All. – Này đây trinh nữ sẽ mang thai, hạ sinh một con trai, và người ta sẽ gọi tên Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta. – All.

PHÚC ÂM: Mt 1, 18-24

“Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria, đính hôn với Thánh Giuse con vua Đavít”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây:

Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà, là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo.

Nhưng đang khi định tâm như vậy thì thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: “Hỡi Giuse, con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần: bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”. Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng Tiên tri phán xưa rằng: “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.

Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền: ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm 1 (Giáo Phận Phú Cường)

Sau gia phả của Chúa Giêsu Kitô (x. Mt 1,1-17), thánh Matthêu tiếp tục tường thuật về gốc tích của Người (Mt 1,18). Chúa Giêsu có một nguồn gốc, và nguồn gốc ấy là chính Thiên Chúa – Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa nay đã đến thế gian và ở cùng chúng ta.

Đức Mẹ Maria mang thai Chúa Giêsu trong lòng không bởi Giuse nhưng bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Làm thế nào thánh Giuse có thể tin, ngài đã thực hiện thế nào và đâu là bài học cho chúng ta?

Thánh Giuse đã thực sự bối rối khi nghe tin Đức Mẹ mang thai bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng ngài đã kịp bình tĩnh để không kết án, nhưng ứng xử hoàn toàn bác ái khi rời đi trong âm thầm. Ngoài việc khó hiểu, chắc chắn có một nỗi đau nào đó trong lòng ngài. Thánh Giuse đã hành động vượt ra ngoài sự hiểu biết, đó là tin. Ngài đã tin ngay cả khi không hiểu gì cả; và sự công chính của thánh Giuse có thể nói là: dù tuyệt vọng nhưng vẫn một niềm cậy trông. Ngài đã thực hiện như lời sứ thần báo mộng, tin rằng nguồn gốc của Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa – Người là Đấng cứu độ đã thực sự hiện diện trong nhân loại, Người sẽ ở cùng chúng ta để tỏ lộ khuôn mặt của Thiên Chúa. Thiên Chúa được nhận biết qua sự hiện diện của Chúa Giêsu.

Chúng ta cũng cần có một đức tin như thánh Giuse, dù không hiểu nhưng vẫn một niềm cậy trông vào Chúa. Trên hết, khi tin rằng mọi sự đều bởi Chúa, là nguồn gốc của chúng ta, lúc ấy Chúa sẽ thực hiện những điều kỳ diệu nơi cuộc đời chúng ta mà mình không hề nghĩ tới.

Lạy Chúa Giêsu, xin thêm đức tin cho chúng con và trợ giúp lòng tin yếu đuối của chúng con. Amen.

2. Ngài là Đấng Emmanuen–Lm Giuse Đinh Lập Liễm

A. DẪN NHẬP.

Chúng ta đang chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh. Giáng sinh là sự kiện trung tâm của lịch sử ơn cứu độ và của lịch sử nhân lọai. Giáng sinh là một mầu nhiệm. Muốn hiểu được phần nào mầu nhiệm Giáng sinh, chúng ta cần phải biết Đức Giêsu Kitô là ai? Thiết tưởng không có định nghĩa nào hòan hảo hơn là định nghĩa  mà tiên tri Isaia đã xác quyết trong bài đọc 1 hôm nay: Ngài là Đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Thánh Matthêu cho chúng ta thấy rằng lời loan báo của tiên tri Isaia đã được thực hiện nơi Đức Giêsu, mà theo một cách vĩ đại hơn rất nhiều, và có thể chính vị tiên tri này đã không thể tưởng tượng nổi. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần trong lòng trinh nữ Maria và được sinh ra. Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là người thật. Với tư cách là con người thì Ngài thuộc dòng tộc vua Đavít vì có thánh Giuse là cha nuôi. Ngài đến để chia sẻ thân phận con người của chúng ta và làm cho chúng ta vốn là người phàm, được thông phần thần tính của Người.

Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài đã đến ở với lòai người qua việc tạo dựng, qua lời Ngài trong Kinh Thánh và trong con người của Đức Giêsu ở giữa chúng ta. Chúng ta hãy mừng lễ Giáng sinh trong tinh thần yêu thương và phục vụ, biết đem Chúa đến cho mọi người để mọi người biết thương yêu nhau và coi tha nhân như hiện thân của Đức Kitô ở giữa lòng đời.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

1. Bài đọc 1: Is 7,10-16.

Đây là một trong những đọan văn quan trọng nhất nói về niềm hy vọng Đấng Messia của Israel. Truyền thống Do thái không ngớt đọc đi đọc lại đọan văn này và khóac thêm cho nó những sắc thái mới. Sách Tin mừng thứ nhất sẽ đọc thấy trong đọan văn này sự hòan tất nơi việc Đức Maria sinh hạ Đức Giêsu (Mt 1,22-23).

Vua Achaz bị chống đối ngay trong nước, bị đe dọa bởi ngọai bang, vua nghĩ đến việc cầu cứu những người Assyri. Tiên tri Isaia đã ngăn cản ông và khuyến khích ông hãy đặt niềm tin vào Thiên Chúa hơn là vào liên minh quân sự. Nhà tiên tri đã cho ông một dấu hiệu từ trời cao: đó là cuộc sinh hạ của một người con trai, Đấng giải thóat dân mang tên là Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Không nghe lời khuyên nhủ khôn ngoan đó, Achaz sẽ bị phạt và vương quốc bị phá hủy. Dầu vậy, Thiên Chúa cũng còn thương mà ban cho vua một người con yêu quí là Eùzechias, một ông vua hòan hảo. Ông không phải là Đấng Messia, nhưng chỉ là hình bóng Đấng Cứu Thế và mẹ ông là hình bóng của Đức Trinh nữ Maria.

2. Bài đọc 2: Rm 1,1-7.

Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô tỏ ra được vinh dự vì được kêu gọi vào hàng môn đệ của Đức Kitô, với trách vụ tông đồ rao giảng Tin mừng cho dân ngọai. Trọng tâm Tin mừng ngài rao giảng là Đức Kitô. Theo đó, Đức Kitô là Con Thiên Chúa theo bản tính từ đời đời và đã trở thành con vua Đavít theo xác thể và là người thật.

Từ ý thức đó, thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy sung sướng vì được thuộc về một Đấng cao sang như thế: “Đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”; đồng thời cũng hãy sung sướng với ơn gọi của mình: “Anh em là những người mà Đức Kitô đã kêu gọi”.

3. Bài Tin mừng: Mt 1,18-24.

Việc sinh hạ Đức Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa được diễn ra một cách đặc biệt. Ngài có cha có mẹ đàng hòang: Mẹ Ngài là một trinh nữ có tên là Maria và cha Ngài là bác thợ mộc tên là Giuse.

Cuộc kết hôn giữa thánh Giuse và Đức Maria đã được Thiên Chúa sắp đặt, nhằm những mục đích thích hợp với chương trình cứu độ: Đức Giêsu đã được thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Ngài đến trần gian là “để cứu dân mình khỏi tội”.

Thánh Matthêu hiểu rằng việc này làm ứng nghiệm lời tiên tri của Isaia từ trước: “Đức Giêsu chính là Emmanuel”, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

I. LỜI HỨA BAN ĐẤNG EMMANUEL.

Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ thực hiện những điều đã hứa khi thời gian tới hồi viên mãn. Lời hứa đó đã được thực hiện cách đấy 2000 năm. Đức Giêsu Kitô đã đến  không phải chỉ một lần trong lịch sử, nhưng Ngài vẫn đang đến, đang hiện diện với chúng ta hôm nay, và nhất là Ngài sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Ngược dòng lịch sử nhân lọai, sau khi Nguyên tổ sa ngã, quay lưng lại với Thiên Chúa đi vào chỗ diệt vong, Thiên Chúa đã hứa ban một Đấng Cứu Thế để nhờ Ngài mà con người chuộc lại được sự sống đã mất (x. St 3,15). Thế rồi qua dòng lịch sử, mặc cho sự phản bội liên tục của con người, Thiên Chúa vẫn trung thành mãi và Tình yêu của Ngài vẫn tiếp tục đeo đuổi lấy con người (x. 2Tm 2,13). Từng bước một, Thiên Chúa đã chọn Abraham làm tổ phụ một dân riêng, để từ dân đó, Con Ngài được sinh ra.. Và trong dân đó, Đấng Messia của Thiên Chúa đã được báo trước sẽ thuộc dòng tộc vua Đavít (x. 2Sm 7,12-16).

Thế nhưng, mặc dù đã nhận được lời hứa, con cháu của vua Đavít vẫn không giữ được lòng trung thành. Khi đó vào khỏang thế kỷ thứ 8 trước CN, các vua phương bắc đang đem quân tiến đánh thành Giêrusalem. Vua Giuđa lúc bấy giờ là Achaz thay vì hóan cải đời sống và tin tưởng vào Thiên Chúa, ông lại đi cầu viện đế quốc Assyri. Và để làm đẹp lòng vua của Assyri, ông đã dẹp bỏ bàn thờ của Giavê Thiên Chúa, và thay vào đó là tế đàn của các thần dân ngọai. Thậm chí, ông còn theo thói tục của dân ngọai, thiêu sinh cả con ông làm của lễ tòan thiêu. Trong hòan cảnh đó, Thiên Chúa đã cho tiên tri Isaia đến để kêu gọi nhà vua quay trở lại với Thiên Chúa, và đặt trọn niềm tin nơi Ngài. Chính Ngài sẽ giải thóat dân Ngài khỏi mọi sự dữ. Và như để bảo đảm cho lời của mình, vị tiên tri bảo nhà vua “hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi một dấu ở dưới lòng đất hay ở trời cao”.

Nhưng nhà vua vẫn không chịu xin, vì sợ rằng khi nhận được dấu chỉ, điều đó sẽ chứng tỏ sự sai trái của nhà vua. Ông vẫn cố chấp và tiếp tục sống trong tội lỗi của mình. Nhưng cho dù vua không xin, thì đây, Thiên Chúa vẫn cho ông một dấu chỉ để chứng tỏ lòng trung thành của Ngài: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chính Thiên Chúa sẽ đến ở với dân Ngài và giải thóat họ khỏi mọi đe dọa của quân thù.

Dấu chỉ mà tiên tri Isaia loan báo đã được thực hiện. Ezechiel đã được sinh ra, và các vua phương Bắc đã lui quân. Vị vua này mặc dù rất trung thành với Giavê Thiên Chúa, nhưng vẫn chưa phải là Đấng Messia. Cuối cùng, vào năm 587, Giuđa cũng đã mất vào tay đế quốc Babylon. Như thế, lời tiên báo của tiên tri Isaia không dừng lại ở vua Ezechiel, nhưng còn đi xa hơn, hướng đến Đấng Cứu Thế (Trần thanh Sơn).

II. THỰC HIỆN LỜI HỨA BAN ĐẤNG EMMANUEL.

1. Nguồn gốc của Đức Giêsu.

Theo Kinh Thánh, chúng ta phải xác nhận là Đức Giêsu được sinh ra bởi Đức Maria: “Đức Kitô giáng sinh trong hòan cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đã đính hôn với Giuse”(Mt 1,18). Đức Giêsu đã có người Mẹ còn cha Ngài là ai? Ngài thuộc dòng tộc nào? Mẹ Ngài ra sao?

Chúng ta phải tìm hiểu phong tục cưới hỏi của người Do thái. Luật Do thái phân biệt rõ ràng trong hôn nhân: việc đính hôn và cưới xin. Tuy cũng có lễ hỏi và lễ cưới nhưng giá trị và ý nghĩa khác với Việt nam chúng ta.

* Lễ đính hôn (cũng gọi là lễ hỏi): Thời gian đính hôn kéo dài trong một năm. Trong năm đó đôi bạn được kể như vợ chồng dù họ không có những quyền của vợ và chồng. Lễ hỏi Việt nam chưa làm vợ chồng, còn lễ hỏi Do thái coi như thành vợ chồng. Chứng cớ là theo luật:

. Vị hôn thê bất trung sẽ bị ném đá như vợ chính thức.

. Vị hôn phu có chết thì vị hôn thê trở thành quả phụ.

. Vị hôn thê cũng giống như người vợ chính thức chỉ có thể bỏ nhau bằng tờ ly dị.

. Đứa con cưu mang trong thời gian đính hôn được coi là con chính thức.

Như thế luật cho hai người quyền ăn ở với nhau trong thời gian này.

Giuse và Maria đang ở trong giai đọan này.

* Lễ thành hôn: Hôn nhân chính thức được cử hành vào cuối năm hứa hôn. Nếu chúng ta hiểu biết phong tục cưới gả thông thường của người Do thái thì mối quan hệ trong khúc sách này hòan tòan là bình thường và rõ ràng.

2. Giuse là người công chính.

Kinh Thánh gọi Giuse là người công chính: “Giuse bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo”(Mt 1,19). Chữ “công chính” đã được hiểu khác nhau và vì hiểu khác nhau nên cũng cắt nghĩa khác nhau về thái độ của thánh Giuse.

Chúng ta biết, nơi người Do thái, không phân biệt rõ thời kỳ đính hôn và cưới hỏi. Mặc dù chưa cưới, hai người đã đính hôn cũng có thể ăn ở như vợ chồng mà không có lỗi gì đối với luật lệ. Do đó, khi người ta thấy vị hôn thê có thai, thì chỉ một mình vị hôn phu  có thể phán đóan trong việc đó là có tội hay không. Như vậy, thánh Giuse có thể hành động theo hai cách: Hoặc là tuyên bố theo sự hiểu biết tự nhiên của mình là Maria đã phạm tội ngọai tình, và như thế Maria bị mất thể diện hòan tòan; hoặc là để mặc cho người ta tin rằng ngài là cha của đứa bé sắp sinh. Giuse đã chọn giải pháp nào?

Thật khó nghĩ! Một đàng ngài không muốn công khai bộc lộ ý tưởng của mình là Maria đã phạm tội, vì ngài không muốn gây tổn thương cho Maria, một thiếu nữ ngài rất yêu mến và không muốn cho cô phải đau khổ. Nhưng đàng khác, giả sử Maria đã phạm tội thật mà nhận cô làm vợ thì không được. Bởi đó buộc phải thực hành luật Maisen chăng? Cho phép bỏ vợ khi có lý do chính đáng quan trọng.

Đang phân ân lo nghĩ không biết xử trí ra sao thì Thiên Chúa báo mộng cho ông: “Hỡi Giuse con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về làm vợ mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). Ông Giuse được báo mộng. Việc này thường xẩy ra trong Cựu ước khi Thiên Chúa muốn truyền cho ai một điều gì. Vậy hôm nay, việc báo mộng cho Giuse là cách thức Thiên Chúa dùng để tỏ ra thánh ý của Ngài về việc thụ thai đồng trinh của Đức Maria.

Sau khi được Thiên Chúa báo mộng, Giuse không còn thụ động nữa, ông tỉnh giấc và tuân hành lời thiên thần truyền. Giuse mau mắn thi hành mọi mệnh lệnh của Thiên Chúa liên quan đến Con Thiên Chúa xuống thế làm người, qua việc ngài làm bạn với Đức Maria và cha nuôi Chúa Giêsu, không ăn ở với nhau cho đến khi sinh con.

3. Giuse, cha nuôi Đức Giêsu.

* Đưa nhập vào dòng dõi Đavít.

“Khi thức dậy, Giuse đã thực hiện điều Thiên Chúa truyền”(Mt1,25). Với sự mau mắn của người công chính, hòan tòan sẵn sàng trước sự mới lạ của Thiên Chúa, Giuse đón nhận về nhà mình mầu nhiệm của Giao ước mới: “Ông rước vợ về nhà mình”, như thế, cho phép các lời tiên tri được thực hiện trọn vẹn: “Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai sinh hạ một con trai, người sẽ đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi”. Nhờ Giuse, Đấng Cứu Thế, thụ thai trong lòng Đức Maria, bởi Thánh Thần của sự sáng tạo mới, được đưa nhập vào dòng dõi Đavít.

Từ đây với người cha là thánh Giuse, Đức Giêsu thực sự thuộc hòang tộc Đavít, đúng như lời Thiên Chúa đã hứa từ muôn thuở. Đây đúng là một tin vui, một tin mừng vĩ đại không chỉ cho dân Chúa mà là cho tòan thể nhân lọai. Cảm nghiệm điều đó, ngay trong những lời mở đầu thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô đã tuyên bố: “Tôi đã được kêu gọi làm tông đồ và đã được tuyển chọn  để rao giảng Tin mừng Thiên Chúa. Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Đavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần… Đó là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

* Việc đặt tên.

Khi sai sứ thần đến trấn an và báo tin vui cho thánh Giuse, Thiên Chúa còn muốn cho chúng ta biết sứ mạng của Đức Giêsu. Thực vậy, lời sứ thần giải thích tên gọi của Đức Giêsu chính là lời công bố sứ mạng của Ngài. Trong Sách Thánh, những tên gọi đều có ý nghĩa riêng như chúng ta thường nói: tên là người. Vậy tên Giêsu, do từ Do thái Yehoshua có nghĩa là “Chúa Cứu Độ”, “Chính Ngài sẽ cứu dân mình khỏi tội”.

Giuse được ủy nhiệm một sứ mạng “đặt tên cho con trẻ” dành riêng cho ngài. Mà, theo H. Vulliez giải thích: “Theo luật Do thái lúc bấy giờ, đứa bé hiện hữu hợp pháp bằng tên mà người ta gọi nó, và nó thuộc dòng dõi người cha, dù đó là người cha (sinh vật học) ruột thịt hay không”.

Theo ngôn ngữ Sêmít trong Thánh Kinh, việc đặt tên có nghĩa là “nhận lấy quyền làm cha pháp lý” của đứa trẻ. Chính qua dòng họ Giuse  mà Đức Giêsu mới trở nên “con vua Đavít, để hòan tất mọi lời hứa của Thiên Chúa”(x. Mt 1,1-17). Như vậy, tư cách con vua Đavít thực sự của hài nhi  và sự thực hiện trọn vẹn các lời tiên tri cứu thế tùy thuộc ở sự vâng lời của thánh Giuse.

* Vai trò của thánh Giuse đối với Đức Giêsu.

Vai trò của thánh Giuse không phải là tầm thường. Khoa tâm lý hiện đại đã tỏ cho chúng ta biết tầm quan trọng của hình ảnh người cha đối với việc tạo thành nhân cách của hài nhi. Chính nhờ gần gũi với Giuse mà Đức Giêsu sẽ học biết người cha là gi. Chính nơi ông, mà Ngài sẽ nhìn thấy  phản ánh nhân lọai tình phụ tử của Thiên Chúa. Biết nói với chúng ta rõ ràng về Cha của Ngài, phải chăng khi đã nhìn thấy Giuse  mà Ngài đã có kinh nghiệm  về sự âu yếm của người cha: “Ai trong các anh, nếu đứa con xin bánh mà lại cho một hòn đá ư? Hay, nếu nó xin một con cá, mà lại cho nó một con rắn” (Mt 7,9-10). Ngài đã học biết rằng, các người cha dưới đất biết cho con cái mình những sự tốt lành. Ngài đã học biết điều đó nơi thánh Giuse.

Tính cách làm cha của Giuse đối với Đức Giêsu quan trọng hơn ta vẫn thường nghĩ. Để gọi tên Đấng mà tất cả mọi người xưng là Thiên Chúa, để chỉ sự hiện diện rất gần gũi mà từ đó Ngài lãnh nhận tất cả mọi sự, hữu thể mà Ngài luôn luôn ý thức chỉ là một với Ngài. Đức Giêsu tự động dùng lại danh xưng mà Ngài âu yếm gọi Giuse: “Cha, Ba, Bố”. Và khi phải giải thích sự thật gây kinh ngạc này với Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa mà Ngài đòi tiếp tục công trình sáng tạo, Đức Giêsu lại dùng những từ ngữ đơn giản nhất khi còn tập tành ở Nazareth, trong xưởng của bác thợ mộc Giuse: “Cho đến bây giờ vẫn làm việc, và Ta cũng vậy, Ta cũng làm việc… Điều mà Cha làm, thì Con cũng làm giống như vậy. Chính Cha yêu mến Con, và chỉ cho Con tất cả những gì Ngài làm”(Ga 5,17-20).

Chính nơi những từ ngữ thường ngày, những từ ngữ mà Ngài dùng để diễn tả cuộc đời Ngài, những mối liên hệ của Ngài, những tình cảm của Ngài, mà Đức Giêsu muốn nói đối với Ngài, Thiên Chúa là ai. Làm sao không tìm thấy trong tình cảm của cha mẹ Ngài những từ ngữ đúng đắn nhất để nói cho chúng ta biết  mối liên hệ tuyệt đối duy nhất vốn vẫn hiện diện trong con tim Ngài: “Cha và Ta, Chúng Ta là một”(Ga 10,30) (Trích Fiches dominicales A, tr 28.29).

III. ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ EMMANUEL.

1. Đức Giêsu sinh ra bởi Đức Mẹ đồng trinh.    

Chủ ý của bài Tin mừng hôm nay không nhằm vào sự công chính của Giuse cho bằng sự thụ thai kỳ diệu của Đức Giêsu trong cung lòng đồng trinh của Maria do quyền năng Chúa Thánh Thần. Thông thường, nói tới sự đồng trinh của Đức Maria, người ta nghĩ tới sự đồng trinh thể chất, ít ai để ý đến sự đồng trinh về mặt tinh thần của Ngài. Cả hai mặt của sự đồng trinh ấy đều quan trọng và cần thiết. Nhưng nếu chỉ đồng trinh về mặt thể chất mà không có mặt tinh thần thì đồng trinh ấy chẳng còn ý nghĩa. Sự đồng trinh về tinh thần nơi Đức Maria quan trọng hơn rất nhiều.

Trước mặt Thiên Chúa, đồng trinh về mặt tinh thần có nghĩa là có tâm hồn trọn vẹn hướng về Ngài, hòan tòan dâng hiến bản thân cho Ngài để hòan tòan thuộc về Ngài, không còn thuộc về chính mình nữa. Trong chiều hướng đó, Đức Maria đã sống tinh thần “tự hủy”, để hòan tòan sống cho Thiên Chúa  và tha nhân. Biểu hiện quan trọng và rõ rệt nhất là không còn coi ý riêng mình là quan trọng, thậm chí không còn ý riêng nữa, để chỉ biết có thánh ý Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, Đức Maria cũng có thể nói như Đức Giêsu: “Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi”(Ga 5,30)., hay như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2,20). Trọn cuộc đời của Ngài đã chứng tỏ sự đồng trinh tinh thần ấy, được biểu hiện qua mọi hành vi của Ngài, cụ thể nhất qua hai chữ “Xin vâng” khi sứ thần truyền tin cho Ngài (JKN).

2. Đức Giêsu là Chúa và là người thật.

Trong bài tụng ca, thánh Phaolô đã viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ nhất quyết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hòan trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”(Pl 2,6-7). Ngài là Thiên Chúa mặc lấy xác phàm hèn, trở nên con người như chúng ta. Ngài cũng sống trong gia đình, có cha có mẹ, có anh em, trong xã hội có vua quan, có phép tắc, luật lệ, y trang như mọi người chúng ta. Ngài đã hòan tòan “trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”(Pl 2,7), cũng “sinh làm con của một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật”(Gl 4,4) như chúng ta, cũng “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”(Dt 5,8-9). Vì thế, Ngài “không phải là Đấng  không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội”(Dt 4,15-16). Chắc chắn Ngài có thể nói như một triết gia nào đó: “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”.

Những điều của con người mà Ngài cảm nghiệm được nhiều nhất chính là đau khổ và sự chết. Dường như mọi hình thức của đau khổ Ngài đều đã cảm nghiệm: phản bội, oan ức, bị đàn áp, bóc lột, mất mát, roi vọt, nhục nhã.., Điều này làm cho chúng ta rất đuợc an ủi khi gặp đau khổ. Chúng ta nhận ra Ngài đã dùng đau khổ của chính mình để xoa dịu những đau khổ của chúng ta. Ngài đã dùng thương tích của chính Ngài để chữa lành những vết thương của chúng ta (x. 1Pr 2,2b). Nghĩ như thế, chúng ta không cảm thấy cô đơn trong đau khổ, vì chúng ta cảm thấy như Ngài đang đau khổ với chúng ta, để biến những đau khổ của chúng ta  thành một giá trị cao cả.

Truyện: Đức Giêsu là người thật.

Tiến sĩ John Coleman là Hiệu trưởng trường Đại học Haverford ở bang Pensylvania. Ông cũng là thành viên của Ban Giám đốc ngân hàng liên bang. Mới đây, ông đã dần dần từ bỏ những địa vị đặc biệt này. Vì muốn có kinh nghiệm về sự làm việc tay chân, ông đã cố gắng đào những đường mương, làm việc trên cánh đồng, thu quét rác rưởi, rửa chén đĩa. Ông đã học những gì phải làm với mồ hôi trán hơn là trí óc. Ông đã làm những công việc khó khăn và mệt nhọc, nhưng vì không có khả năng chuyên môn, lại làm việc giữa những người xa lạ, nên ông bị thải hồi làm người rửa chén đĩa. Ông đã bị thất nghiệp một thời gian, nhưng nhờ những kinh nghiệm hiện thực đó, ông đã khám phá ra  những gì mà nhiều người đang trải qua.

Có một Vị vô cùng nổi tiếng và có ảnh hưởng hơn tiến sĩ Coleman. Tên Ngài là Giêsu Kitô, Ngài là Thiên Chúa thượng trí và tòan năng, nhưng đã chấp nhận thân phận làm người, sinh ra dưới hình hài con trẻ cách đây đã 2000 năm, mà chỉ ít ngày nữa, chúng ta sẽ hân hoan cử hành Sinh nhật của Đấng Thiên Chúa làm người đó. Để chuẩn bị biến cố vui mừng này, chúng ta cần suy nghĩ về Đấng là Thiên Chúa thật đã trở nên con người thật. (GM Arthur Tonne, Bài giảng TMCN năm A, tr 14)

3. Muốn được Thiên Chúa ở cùng.

Qua cách khởi đầu và kết thúc Tin mừng mình với chủ đề: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, thánh Matthêu, muốn nêu bật một chủ điểm quan trọng đó là: qua việc Đức Giêsu Giáng sinh, Thiên Chúa trở nên hiện diện với dân Người một cách mới mẻ đặc biệt. Để đánh giá được tính cách hiện diện mới mẻ này, chúng ta cần nhắc lại ba cách Chúa dùng để hiện diện với chúng ta.

a) Trước hết, Chúa hiện diện với chúng ta qua việc sáng tạo, đặc biệt qua quyền năng nâng đỡ của Ngài. Chúa không chỉ tạo dựng mọi sự mà còn gìn giữ cho nó được hiện hữu nữa. Sự hiện diện của Ngài trong việc tạo dựng có thể ví như một máy chiếu xinê phóng ảnh lên trên màn hình. Máy chiếu này làm hình ảnh hiện ra trên bức màn, và hình ảnh sẽ tồn tại bao lâu máy chiếu vẫn còn lưu giữ hình ảnh đó. Trong trường hợp của Chúa cũng vậy, Ngài làm cho tạo vật được hiện hữu và tạo vật sẽ tồn tại  bao lâu Chúa còn bảo tồn nó.

b) Thứ đến, Chúa hiện diện qua lời Ngài trong Kinh Thánh. Có người mô tả Kinh Thánh như là thư tình  ông bố gử đến các con mình. Giống như một người bố trần gian biểu lộ ý nghĩ, tư tưởng mình cho con cái trong một lá thư thế nào thì Chúa cũng mạc khải tư tưởng Ngài cho chúng ta trong Kinh Thánh như vậy. Vì thế, nói thật chính xác, Kinh Thánh làm cho tâm trí Thiên Chúa trở thành hiện diện cụ thể rõ ràng, sống động đối với chúng ta.

c) Cuối cùng, Chúa hiện diện với chúng ta qua Đức Giêsu, Con Ngài. Cùng với việc chào đời của Đức Giêsu, Thiên Chúa đã bước thêm một bước khổng lồ để tiến đến cư ngụ giữa chúng ta. Như thế, Chúa đã hiện diện với chúng ta không chỉ qua việc tạo dựng, qua lời Ngài mà còn bằng đích thân Ngài nữa (Trích M. Link, Giảng lễ Chúa nhật A, tr 29-30).

Chúng ta đang ở vào những ngày chót của Mùa Vọng để đón chờ lễ Giáng Sinh. Chúng ta hãy bắt chuớc thánh Giuse  mà cộng tác vào công trình cứu độ  của Chúa. Thánh Giuse đã đón nhận mầu nhiệm này với lòng tin. Thiên Chúa cần đến Ngài để Ngài đứng ra chấp nhận làm cha Chúa Giêsu trước pháp luật. Ngài đã thuận theo thánh ý Chúa để mọi công cuộc của Chúa được diễn tiến theo đúng chương trình Ngài đã ấn định.

Chúng ta cũng phải cộng tác với Chúa để mọi công việc của Chúa được diễn tiến trong trần gian và trong từng người chúng ta theo đúng kế họach của Ngài. Chúng ta hãy làm cho mọi người cảm nhận được rằng Đấng Emmanuel đang hiện diện giữa lòai người. Ngài hiện diện nơi từng người, trong những người hèn mọn nhất trong chúng ta, để rồi chúng ta phải xác nhận rằng “Tha nhân chính là Chúa”.

Truyện: Chúa đến nơi tha nhân.

Một tác giả kể câu chuyện ngụ ngôn sau đây: Vào buổi sáng nọ, người thợ giầy thức dậy rất sớm. Anh quyết định chuẩn bị chiếc xưởng nhỏ của anh cho tươm tất rồi vào phòng khách chờ đợi cho bằng được người khách quí. Và người khách đó không ai khác hơn là chính Chúa, bởi vì tối qua trong giấc mơ, Ngài đã hiện ra và báo cho anh biết Ngài sẽ đến thăm anh trong ngày hôm sau.

Người thợ giầy ngồi chờ đợi, tâm hồn tràn ngập hân hoan. Khi những tia nắng sớm vừa rọi qua khung cửa, anh đã nghe được tiếng gõ cửa. Lòng anh hồi hộp, sung sướng, hẳn là Chúa đến. Anh ra mở cửa. Thế nhưng kẻ đang đứng trước mặt anh không phải là Chúa, mà là người phát thư.

Sáng hôm đó là một ngày cuối đông, cái lạnh đã khiến mặt mũi, tay chân người phát thư đỏ như gấc. Người thợ giầy không nỡ  để nhân viên bưu điện  phải run lẩy bẩy ngòai cửa. Anh mời ông ta vào nhà và pha trà mời khách. Sau khi đã được sưởi ấm, người phát thư đứng dậây cám ơn và tiếp tục công việc.

Người thợ giầy lại vào phòng khách chờ Chúa. Nhìn qua cửa sổ, anh thấy một em bé đang khóc sướt mướt trước cửa nhà. Anh gọi nó lại, hỏi cớ sự. Nó mếu máo cho biết đã lạc mất mẹ và không biết đường về nhà. Người thợ giầy lấy bút viết vài chữ để lại trên bàn báo cho người khách quí biết mình phải đi ra ngòai.

Nhưng tìm đường dẫn đứa bé về nhà đâu phải là chuyện đơn giản và nhanh chóng. Mãi chiều tối anh mới tìm ra nhà đứa bé, và khi anh về lại nhà thì phố xá đã lên đèn.

Vừa bước vào nhà, anh đã thấy có người đang đợi anh, nhưng đó không phải là Chúa, mà là một người đàn bà với dáng vẻ tiều tụy. Bà cho biết đứa con của bà đang ốm nặng và bà đã không thể chợp mắt suốt đêm qua. Nghe thế, người thợ giầy lại hối hả đến săn sóc đứa bé. Nửa đêm anh mới về đến nhà, anh để nguyên quần áo và lên giường ngủ.

Thế là một ngày đã qua mà Chúa chưa đến thăm anh. Nhưng đột nhiên trong giấc ngủ, người thợ giầy nghe thấy tiếng Chúa nói với anh: “Cảm ơn con đã dọn trà nóng cho Ta uống. Cám ơn con đã dẫn đường cho Ta về nhà. Cám ơn con đã săn sóc ủi an Ta. Cám ơn con đã tiếp đón Ta ngày hôm nay”.

3. Hãy làm sáng danh Chúa–Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Có một em bé về kể với mẹ: Mẹ ơi, hôm nay khi một chiếc xe chở bia bị lật, con thấy nhiều người ra hôi bia về uống.

Mẹ nói: Vì họ là người tham lam. Họ phạm tội ăn cắp một cách công khai đáng bị lên án.

Đứa bé: Nhưng con thấy có cả chú tư, cô ba gần nhà mình cũng vui vẻ bưng một thùng bia về nhà.

Mẹ: Vì chú tư, cô bà đã bán sĩ diện mình bằng vài lon bia.

Đứa bé: Con thấy không một ai nhặt giúp bia cho người bị nạn mà ai cũng tranh thủ chộp một vài lon hay vài thùng rồi lên xe chạy hết.

Mẹ: Vì họ sống theo bản năng đói thì ăn, khát thì uống mà không còn xét về luân lý được ăn hay không?

Đứa bé: Vậy nếu xã hội mà con người chỉ biết sống theo bản năng thì xã hội sẽ ra sao?

Mẹ: Thì xã hội sẽ chẳng còn luật lệ, người ta sẽ mạnh ai người ấy sống, hay “cá lớn nuốt cá bé”. Xã hội sẽ loạn lạc, chẳng còn ai tin vào ai.

Đứa bé: Vậy sống trong một xã hội mà con người không còn thân thiện, giúp đỡ nhau thì mình phải làm sao?

Mẹ: Mình phải là một ánh sáng cho thế gian bớt u tối bằng việc làm tốt, không hùa theo đám đông làm chuyện xấu. Dù chỉ là ánh sáng lẻ loi nhưng vẫn phá tan những đêm tối của lòng người. Nhất là mình là người Công giáo phải sống chứng nhân cho Chúa qua dấu chỉ yêu thương để người ta nhận biết chúng ta là môn đệ của Chúa, và đừng bao giờ vì một vài lon bia mà làm ô danh đạo thánh của chúng ta.

Cách đây hơn hai ngàn năm giữa một khung trời đầy những bóng tối của tội lỗi, của sự ích kỷ lòng người Ngôi Hai Thiên Chúa đã ngự xuống trần gian. Ngài là Emanuel ở cùng chúng ta. Ngài đến để thắp sáng trên trần gian ánh sáng của tình bác ái, của sự hiệp thông. Ngài là ánh sáng cho trần gian. Ngài soi chiếu ánh sáng chân lý để đầy lùi bóng tối gian tà. Ngài thắp sáng ánh sáng tình yêu để xua tan bóng đêm của ích kỷ, lạnh lùng. Ngài đi vào trần đời để ném ngọn lửa yêu thương, lửa bác ái, lửa tin yêu cho trần gian.

Thế nhưng, vẫn có những con người khước từ ánh sáng. Họ thích sống trong tăm tối. Họ thích sống theo bản năng, nuông chiều tính xác thịt. Họ ngồi trong u tối nhưng không muốn ra ánh sáng. Vì theo ánh sáng phải bỏ bóng tối. Bóng tối của ích kỷ, của dửng dưng, của gian tà. Nhưng tiếc thay, con người lại thích sống theo bản năng nên họ khước từ ánh sáng.

Ngày nay cũng có nhiều người không muốn theo một đạo nào. Không phải là họ không tin mà điều quan yếu là họ sợ phải sống đạo, phải giữ đạo. Họ thà không theo đạo để sống theo bản năng của mình. Thế nhưng, bản năng thường ích kỷ, thường lầm lỗi và hẹp hòi nên vẫn còn đó những việc làm thiếu tình liên đới, hiệp thông yêu thương trong tình người.

Ngày nay Thiên Chúa vẫn đang cần chúng ta hãy trở thành ánh sáng cho trần gian. Hãy chiếu sáng cho thế gian ánh sáng của yêu thương, của tình liên đới và hiệp thông. Hãy dẫn dắt con người đến cùng ánh sáng đích thực là chính Chúa Giêsu là nguồn mạch ánh sáng.

Thánh Giu-se và Đức Maria năm xưa đã cộng tác với Chúa để mang ánh sáng vào trần gian. Mẹ đã cộng tác bằng hai tiếng xin vâng để đón nhận hài nhi ngự trong cung lòng Mẹ. Thánh Giuse đã cộng tác bằng hai tiếng xin vâng để trở thành cha nuôi của Chúa Giêsu. Cả hai cùng thưa xin vâng như lời dâng hiến cuộc đời để trở thành khí cụ của Chúa mang ánh sáng vào trần gian. Ngôi Hai Thiên Chúa đã có thể cư ngụ giữa chúng ta là nhờ tấm lòng hy sinh của hai thánh nhân. Chính các ngài đã từ bỏ ý riêng, từ bỏ nếp sống của mình để hành xử theo ý Thiên Chúa.

Nếu cuộc đời mà ai cũng biết từ bỏ ý riêng của mình để làm theo ý Chúa thì cuộc đời tốt đẹp biết bao. Nếu dòng đời ai cũng biết chế ngự bản thân để sống cho tha nhân thì dòng đời sẽ không còn vẫn đục bởi hôi của, bởi dưng dưng trước khốn khó của đồng loại mà ai cũng sẵn sàng giúp đỡ nhau.

Mùa Noel nữa lại đến như mời gọi chúng ta hãy là ánh sáng cho trần gian. Xin đừng vì những quyến luyến trần tục, những tham lam bất chính mà bản rẻ lương tâm, nhân phẩm của mình. Nhưng mỗi người hãy là những vì sao sáng trên bầu trời loan báo tin vui Chúa giáng sinh cho nhân trần. Xin Đấng Emaul mãi ở lại trong tâm hồn chúng ta ban niềm vui và hạnh phúc để chúng ta cũng ra đi xây dựng tình yêu và hạnh phúc cho nhân trần. Amen.

4. Gia đình cần niềm tin nơi nhau–Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cuộc sống chung cần niềm tin nơi nhau. Niềm tin sẽ cho nhau hạnh phúc, và sự bình an. Niềm tin sẽ khích lệ nhau vượt qua khó khăn, vì ở giữa những phong ba bão táp vẫn có người tin tưởng ở bên chúng ta. Nhất là trong đời sống vợ chồng càng cần niềm tin nơi nhau hơn. Vợ chồng không tin nhau sẽ đầy đọa nhau suốt đời. Lấy phải một người đa nghi thì suốt ngày được nghe những bản án vô cớ nơi người bạn của mình.

Có một bà vợ hay ghen một cách vô cớ. Mỗi lần ông chồng đi đâu về là bà đều khám xét kỹ lưỡng trên áo xem có gì lạ không. Ngày thứ nhất bà thấy có 1 sợi tóc quăn trên áo, bà liền phán: hôm nay lại ôm cái con tóc quăn phải không? Ông chồng ậm ừ cho qua. Ngày thứ hai bà khám xét lại thấy một sợi tóc bạc. Ông chồng liền phán đừng nói tôi ôm bà lão nhé, nhưng bà vợ liền phán: Hôm nay tôi đoán chắc ông ôm con tóc bạch kim phải không?. Ông chồng đành chịu thua. Lần thứ ba, bà khám kỹ lưỡng nhưng không có sợi tóc nào dính trên áo ông. Tưởng cho qua, ai dè bà phán một câu xanh rờn: Hôm nay, lại ôm cái con trọc đầu rồi!

Ghen tương là biểu lộ tình yêu, nhưng ghen tương vô cớ sẽ đánh mất tình yêu, đánh mất tự do của người mình yêu. Hai người cần phải biết tin tưởng lẫn nhau, biết cảm thông cho nhau, nhất là biết tôn trọng nhau mới có thể cùng nhau đi qua kiếp người với lòng trung thủy khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Nếu không tin nơi nhau sẽ đầy đọa và làm khổ nhau suốt đời.

Thiên Chúa luôn yêu thương con người. Tình yêu của Ngài đôi lúc cũng có những ghen tương. Ngài đòi con người chỉ được yêu một mình Ngài và không có được thờ một thần linh nào khác. Nhưng tình yêu của Ngài không ghen tương mù quáng. Người luôn tin tưởng con người. Ngài luôn tôn trọng con người. Điều Ngài có thể làm để níu kéo con người về với Ngài chính là tình yêu. Ngài đã dùng tình yêu hy sinh, tận hiến cho người mình yêu được sống và sống hạnh phúc. Tình yêu của Ngài luôn bao dung có thể phủ lấp muôn vàn tội lỗi con người, tha thứ và nhẫn nại chờ đợi con người.

Phúc âm hôm nay cho ta thấy tình yêu đầy tin tưởng nơi thánh Giuse. Ngài từng khó hiểu tại sao người bạn đính hôn của mình lại mang thai. Ngài cũng có những giao động đến nỗi định tâm bỏ đi cách kín đáo. Nhưng niềm tin vào Mẹ Maria đã giữ ngài ở lại. Ngài tin Mẹ Maria là người đoan trang thanh khiết. Ngài tin rằng với tính cách của Mẹ Maria sẽ không làm gì trái với lương tâm hay trái với luân thường đạo lý. Trên hết mọi sự chính là niềm tin nơi Thiên Chúa. Thánh Giuse đã tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Ngài để cho Thiên Chúa thực hiện ý định của Ngài. Ngài tin vào đường lối của Thiên Chúa luôn tốt nhất cho từng người. Ngài đã để thánh ý Chúa thực hiện theo như chương trình đã định.

Chính niềm tin vào Thiên Chúa và sự tin tưởng nơi người bạn đính hôn, thánh Giuse đã đón nhận Mẹ về nhà mình. Không có niềm tin tuyệt đối thì làm sao có một mái ấm gia đình Nagiaret? Không có niềm tin nơi nhau làm sao thánh Giuse có thể có thể nhận làm cha nuôi của Chúa Giêsu?

Cuộc sống sẽ tốt hơn nếu con người dám tin nơi nhau. Niềm tin sẽ giúp nhau bỏ qua những nghi kỵ, hiểu lầm, những toan tính để sống chia sẻ với nhau. Niềm tin cũng có nghĩa là phó thác trọn vẹn. Khi vợ chồng tin cậy nhau sẽ phó thác cả cuộc đời mình cho nhau. Vui buồn, sướng khổ cùng chia sẻ ngọt bùi với nhau. Lòng tin cũng được bày tỏ bằng sự cảm thông và chấp nhận nhau. Cuộc sống nếu tin nhau sẽ không còn phê phán hay lên án nhau. Cuộc sống nếu tin nhau sẽ giúp gia đình hòa hợp, yên vui và hạnh phúc bên nhau.

Ước gì các đôi hôn phối biết tìm được niềm vui hạnh phúc bên nhau khi biết tin tưởng nơi nhau, khi biết sống bao dung đón nhận nhau hầu xâu dựng một mái nhà rộn ràng niềm vui và hạnh phúc. Amen.

5. Chúa ở cùng chúng ta–Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta, Chúa đã nhập thể làm người để con người làm con Thiên Chúa. Đây là một ân huệ cao qúy mà Chúa đã dành cho loài thụ tạo chúng ta. Ngài chính là Emanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài còn tự đồng hoá mình trong những mảnh đời bất hạnh mà chúng ta gặp gỡ bên đường.

Người ta kể rằng: có một người đạo đức thánh thiện kia, đêm ngày hằng ao ước được tiếp đón Chúa một lần trong đời. Với ước nguyện chân thành, Thiên Chúa đã nói với ông qua giấc ngủ: “ngày mai Ta sẽ đến viếng thăm ông”. Thế là ông đã bắt đầu một ngày mới tràn đầy niềm vui vì nỗi niềm khát khao của mình sắp được toại nguyện. Ông chuẩn bị phòng ốc sạch sẽ, chuẩn bị tiệc tùng thiết đãi Chúa và ra tận ngoài cổng để đón tiếp Chúa. Thế rồi khi ánh bình minh xuất hiện ông thấy một lão ăn xin, rách rưới tả tơi đến xin ông chút cơm bánh lót dạ, ông đã vô tình xua đuổi vì ông đang nóng lòng chờ đợi vị thượng khách. Rồi tiếp sau là một người lữ hành, nỡ đường nỡ bước đang cần sự nâng đỡ của ông, nhưng ông vẫn từ chối. Và khi bóng chiều đã ngả sau lưng đồi ông lại thấy một phụ nữ ốm yếu, bệnh tật đến nương nhờ ông đã làm ngơ trước lời van xin. Cuối cùng, đêm về ông trách Chúa, tại sao không đến thăm ông như đúng lời đã hứa. Chúa đã nói với ông: “Hôm nay, Ta đã đến với ngươi ba lần nhưng đều bị ngươi khước từ”.

Vâng, Chúa đã đến và ở giữa nhân loại đã được các tiên tri loan báo qua mọi thời đại, đến nỗi một nhà thơ đã từng thốt lên: “Giêsu – Giêsu không bỗng dưng mà có – Cả pho Cựu ước còn đó – Trăn trở bao đời mới sinh hạ Giêsu”. Và khi thời gian đến hồi viên mãn, ngài đã hạ sinh làm người và ở giữa chúng ta. Ngài không tự nhốt mình trong một cung điện nguy nga, tráng lệ, nhưng sinh ra giữa đám dân nghèo cùng cực, Ngài ở giữa chúng ta để chia sẻ cảnh đời tha hương khốn cùng nhất của nhân loại là “sinh vô gia cư – chết vô địa táng”. Ngài ở giữa nhân trần để chia sẻ cảnh đời vốn dĩ vô thường và lắm nổi trôi, con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng chính Ngài lại không có nơi gối đầu”. Ngài ở giữa chúng ta để trao ban tình yêu của mình cho những người bất hạnh vì ốm đau, bệnh tật, bị ngược đãi, bị bỏ rơi. Ngài còn dành một tình yêu đặc biệt cho những người tội lỗi là những người thu thuế và gái điếm, vì sứ mệnh của Ngài đến trần gian là để cứu vớt những gì đã mất.

Kính thưa qúy ông bà và anh chị em,

Lời báo mộng của thiên sứ với thánh Giuse dường như vẫn vang vọng nơi tâm hồn chúng ta, Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta, ngài đang hiện diện nơi những người nghèo đói, tật nguyện, nơi những người bất hạnh, bị ngược đãi, bị bỏ rơi, Ngài đang cần chúng ta gạt ra ngoài những toan tính trần thế, những nghi nan, khó khăn để mạnh dạn và quảng đại đón nhận những anh em hèn yếu, đói khổ đang cần sự trợ giúp của chúng ta. Vâng chính Ngài đã đồng hoá mình với tất cả những người khốn khó đó, vì chính Ngài đã nói: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc hãy vào hưởng Nước Trời là gia nghiệp đã dành sẵn cho các người, vì khi xưa Ta đói, Ta khát, Ta trần truồng, bị bỏ rơi, tù đầy, ngược đãi các ngươi đã cho ăn cho uống và tiếp rước.

Song le, Chúa Giêsu cũng đang cần chúng ta trở nên dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa giữa thế giới hôm nay. Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu đã cần sự cộng tác của thánh Giuse để ngài có một vị trí trong xã hội, được sinh ra trong một gia đình, một dòng tộc vua Davít, thì ngày nay, Ngài cũng cần sự cộng tác của chúng ta để Ngài lại tiếp tục sinh ra giữa dòng đời hôm nay. Nơi nào có sự hiện diện của Chúa nơi đó có yêu thương, nơi nào có sự hiện diện của Chúa nơi đó có an bình hạnh phúc. Thực vậy, con người ngày nay đang cố gắng bon chen để dành cho mình có lắm của nhiều tiền, có một địa vị cao trong xã hội đến nỗi sẵn sàng chà đạp lên anh em mình, bất chấp lề luật của Chúa nên chính họ luôn mất bình an và làm cho cuộc sống chung quanh trở nên nặng nề vì nghi kỵ, ghen tương và hận thù.

Hôm nay, Chúa vẫn tha thiết mời gọi chúng ta hãy để cho Chúa được tiếp tục hiện diện trong cuộc đời chúng ta, và trong môi trường sống quanh ta. Hãy để cho Chúa làm chủ cuộc sống của mình bằng việc tuân hành thánh ý Chúa, đừng sợ những nghi nan, những khó khăn khi phải tuân theo thánh ý Chúa, vì chính Chúa sẽ tháo gỡ những nghi nan và ban ơn bình an cho những ai thành tâm thiện chí sống theo lời Ngài. Noi gương thánh Giuse, mỗi người chúng ta hãy biết đón nhận Chúa vào trong cuộc đời mình và qua đời sống tuân hành thánh ý Chúa, chúng ta gieo vãi niềm vui và sự an bình của Chúa cho anh chị em chung quanh. Ước gì trong mùa giáng sinh năm nay, lời cầu chúc Emmanuel không chỉ là Thiên Chúa ở cùng chúng ta mà ở cùng anh chị em chung quanh chúng ta. Xin Chúa Giêsu là Đấng Emmanul luôn hiện diện sống động trong cuộc đời của từng người chúng ta, xin Ngài ban tràn đầy niềm vui ân thánh trong ngày mừng Chúa giáng sinh. Amen.

6. “Giuse đón vợ về nhà mình”–Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Theo tiến trình phụng vụ của Giáo Hội, trước Đại Lễ Giáng Sinh, bao giờ Giáo Hội cũng cử hành một tuần lễ áp, từ ngày 17 đến ngày 24, để nhắc lại tất cả những gì xẩy ra trước Biến Cố Giáng Sinh và trực tiếp liên quan đến Biến Cố Giáng Sinh. Đầu tiên là hai bài Phúc Âm theo Thánh Mathêu, một cho ngày 17, về nguồn gốc loài người của Chúa Kitô theo gia phả của Người, và một cho ngày 18, về nguồn gốc Biến Cố Nhập Thể của Người, sau đó, Phúc Âm Thánh Luca thứ tự cho thấy chi tiết hơn, ở ngày 19, về việc thiên thần báo tin Gioan Tẩy Giả ra đời, ở ngày 20, về việc truyền tin Lời Nhập Thể, ở ngày 21, về việc Mẹ Maria thăm viếng bà Isave, ở ngày 22, về ca vịnh Mẹ Maria ngợi khen Thiên Chúa là Đấng chẳng những “đã thương đến phận thấp hèn tì nữ của Ngài” là Mẹ mà còn “săn sóc Yếu Duyên tôi tớ của Ngài theo lòng Ngài xót thương, như Ngài đã phán hứa với các vị tổ phụ”, ở ngày 23, về việc đặt tên cho Gioan Tẩy Giả, và ở ngày 24, về ca vịnh Giacaria, thân phụ của hài nhi Gioan, báo trước việc “Chúa là Thiên Chúa của Yến Duyên đã viếng thăm và cứu chuộc dân Ngài”. Theo chiều hướng ấy, các bài Phúc Âm cho Chúa Nhật Thứ Bốn, Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng này, cũng cho thấy, ở chu kỳ phụng vụ Năm A theo Phúc Âm Thánh Mathêu, về việc thiên thần báo mộng cho Thánh Giuse liên quan đến Lời Nhập Thể, ở Năm B theo Phúc Âm Thánh Luca, về biến cố Truyền Tin theo Phúc Âm Thánh Luca, (vì Phúc Âm Thánh Marcô cho chu kỳ Năm B không có một chi tiết nào về sự kiện Nhập Thể), và ở Năm C cũng theo Phúc Âm Thánh Luca, về việc Mẹ Maria thăm viếng và được bà Isave nhận biết Đấng cưu mang trong lòng Người. Riêng bài Phúc Âm theo Thánh Mathêu hôm nay cho chúng ta thấy nguồn gốc của việc “Con Đấng Tối Cao” (Lk 1:32) nhập thể, một biến cố trực tiếp liên quan đến cha mẹ của Người, nhất là liên quan đến vị cha nuôi của Người.

Thật vậy, hai tuần Mùa Vọng trước đây chúng ta đã thấy nhân vật Gioan Tiền Hô nổi bật trong các bài Phúc Âm Thánh Mathêu, hôm nay, cũng theo Phúc Âm Thánh Mathêu, đến phiên nhân vật Giuse, nhân vật chính được Thánh Ký Mathêu ghi nhận, “Maria đã đính hôn” và “là một con người chính trực”. Và cũng chính vì “là một con người chính trực” mà Thánh Giuse, như Phúc Âm kể tiếp, “không muốn tố cáo (Mẹ) nên “định tâm bỏ (Mẹ) cách kín đáo”. Tuy Phúc Âm không thuật lại cho biết “con người chính trực” này tại sao lại đi đến quyết tâm như vậy, chúng ta cũng hiểu là thánh nhân đã nhìn thấy tận mắt Mẹ Maria đang mang thai, trong khi hai người mới đính hôn với nhau, chưa về chung sống vợ chồng với nhau. Sự kiện Chúa Giêsu được thụ thai trong thời gian Mẹ Người đính hôn này cho thấy, theo pháp lý Do Thái bấy giờ, một khi đã đính hôn, hai người nam nữ có thể ăn ở với nhau như vợ chồng. Bằng không, Chúa Giêsu có thể bị coi là đứa con tiền hôn, thậm chí có thể trở thành một đứa con ngoại hôn hay một đứa con hoang, nếu hôn nhân không thành theo kiểu đính hôn thời nay, hay sau khi Thánh Giuse âm thầm bỏ đi. Phúc Âm cũng không thuật lại cho chúng ta biết “con người chính trực” này đã thấy được sự kiện phũ phàng oái oăm này lúc nào, (chắc chắn là sau thời gian Mẹ Maria đi thăm mẹ con Thánh Gioan Tẩy Giả về), và cuộc chiến đấu nội tâm đã xẩy ra như thế nào nơi Thánh Giuse sau khi chứng kiến thấy sự lạ xẩy ra trên thân xác của người vợ đính hôn của mình. Thế nhưng, căn cứ vào những chi tiết hết sức quan trọng, dù ngắn ngủi của Phúc Âm hôm nay, (cũng là bài Phúc Âm cho Lễ Kính Thánh Giuse 19/3 hằng năm, và cho cả lễ ngày 18/12 trong tuần trước Đại Lễ Giáng Sinh), chúng ta có thể cảm thấy được tâm trạng đau khổ quằn quại của Thánh Giuse, và cũng mới có thể thông cảm được việc ngài quyết định “bỏ (Mẹ) cách kín đáo”, một quyết định mà đối với ngài bấy giờ hết sức sáng suốt và khôn ngoan của “một con người chính trực”.

Trước hết, Thánh Giuse đã quằn quại với một tâm trạng đau khổ, đến nỗi, đã quyết định âm thầm bỏ đi. Phải chăng quyết định âm thầm bỏ đi của thánh nhân là một quyết định khôn ngoan sáng suốt, hay chỉ là một quyết định bối rối quá không biết phải làm sao hơn? Chúng ta có thể nghĩ rằng, sau khi chợt thấy người vợ đính hôn của mình rõ ràng là có bầu, với cái bụng phồng lên trông thấy, có thể nào về phương diện nhân loại, thánh nhân lại không bật ngửa ra, vô cùng lạ lùng bỡ ngỡ. Chắc chắc ngài đã không lên tiếng hỏi Mẹ Maria cho rõ ràng minh bạch về vấn đề này. Bởi thế, chúng ta cũng có thể suy ra rằng ngài đã bất chợt trông thấy Mẹ có bầu chứ không trực diện với Mẹ. Cho dù như thế, dù không trực diện với Thánh Giuse, Mẹ Maria chắc cũng linh cảm thấy, nếu không muốn nói là biết được rằng vị phu quân của Mẹ đã thấy chuyện lạ nơi thân xác của Mẹ. Cho dù có linh cảm thấy hay biết được điều này đi nữa, Mẹ Maria cũng đã chấp nhận nó ngay từ khi thưa lời “xin vâng” (Lk 1:38). Cả hai đều khó mở lời với nhau đối với vấn đề này. Về phần Thánh Giuse, nếu Mẹ Maria không tự động nói ra, chẳng lẽ ngài lại đi vặn hỏi, như thể ngờ vực và ghen tương, trong khi thánh nhân “là một con người chính trực”, cao thượng. Phần Mẹ Maria, chẳng lẽ phu quân của mình không hỏi mà lại tự động nói ra, như thể sợ bị ngài hiểu lầm, trong khi đó Mẹ lại là một con người “có phúc vì đã tin những gì Chúa phán sẽ được thực hiện” (Lk 145), nghĩa là, Mẹ không lo gì cả, hoàn toàn phó thác cho Chúa tất cả mọi sự, để Ngài tự giải quyết vấn đề theo ý định và đường lối của Ngài, không phải vì Mẹ muốn thách đố Chúa, ở chỗ, nếu Mẹ bị ném đá chết thì Chúa Kitô cũng sẽ chết, như thế những gì Chúa phán sẽ bất thành.

Chúng ta không biết khi quyết định âm thầm bỏ Mẹ Maria mà đi như thế, Thánh Giuse có nghĩ ra rằng, nếu làm vậy, cho dù thánh nhân không trực tiếp ra mặt khiến cho Mẹ bị ném đá chết, thì ngài cũng gián tiếp gây ra sự việc đáng tiếc ấy nếu chẳng may xẩy ra thực sự. Bởi vì, sau khi ngài đi rồi, mà Mẹ Maria lại bị khám phá ra không chồng mà có chửa thì cuối cùng Mẹ cũng bị ném đá chết thôi. Như thế, phải chăng Thánh Giuse chỉ nghĩ đến mình, đến danh thơm tiếng tốt của mình, hơn là dám liều mình che chở cho người khác, kể cả kẻ làm ô danh mình đi nữa, nếu quả thực là như vậy? Thế nhưng, khách quan mà nói, có một điều không thể tránh được là “chính trực” bao giờ cũng ngược với bất chính và không thể nào chấp nhận gian tà, như dâm ô, trộm cướp, giết người v.v. Bởi thế, sự kiện Mẹ Maria mang thai ngoại hôn khách quan là một chuyện không thể chối cãi, một chuyện tự bản chất thật là bất chính và gian tà, không thể chấp nhận được. Thánh Giuse có nghĩ rằng Mẹ Maria đã phạm tội ngoại tình hay chăng, không ai dám khẳng định và quả quyết. Tuy nhiên, việc mang thai ngoại hôn của Mẹ Maria trước mắt thánh nhân bấy giờ quả thực là một việc ngoại tình, và việc ngoại tình này không phải chỉ phạm đến thánh nhân mà nhất là phạm đến chính lề luật, tức đến chính Thiên Chúa. Việc ngài quyết định âm thầm bỏ đi không tố cáo Mẹ nghĩa là ngài hoàn toàn không dám phán đoán Mẹ, trái lại, trao phó những gì ngoài thẩm quyền phán quyết của ngài cho lề luật, cho Thiên Chúa Tối Cao là Đấng duy nhất có quyền phán xét Mẹ.

Như thế, quyết định âm thầm bỏ vị hôn thê của mình mà đi chứ không muốn ra mặt tố cáo người của Thánh Giuse cho thấy thánh nhân chẳng những “là một con người chính trực” theo luật cũ, mà còn là một con người nhân hậu theo luật mới nữa, một thứ luật mới được “Con Đấng Tối Cao” (Lk 1:32), “quả phúc nơi lòng” (Lk 1:42) vị hôn thê của ngài bấy giờ mà ngài không biết, sau này sẽ khuyên dạy trong Bài Giảng Trên Núi, được Phúc Âm Thánh Mathêu ghi lại ở đoạn 7 câu 1, như sau: “Đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét”. Phải, nếu Thiên Chúa đã làm sáng tỏ những mầu nhiệm của Ngài cho những tâm hồn đơn sơ bé mọn nhất (xem Mt 11:25), thì Ngài quả thực đã thực hiện điều này nơi trường hợp điển hình của “con người chính trực” Giuse. Ở chỗ, như bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, “đột nhiên thiên thần Chúa hiện ra trong giấc mộng của ông mà nói: ‘Hỡi Giuse, con Đavít, đừng sợ nhận Maria làm vợ. Chính bởi Thánh Thần mà người đã thụ thai con trẻ ấy. Người sẽ sinh ra một bé trai và ông sẽ đặt tên cho bé là Giêsu, vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội’”. Chính vì “là một con người chính trực”, nhưng không phải kiểu công minh chính trực của nhóm Pharisiêu đầy những tự cao, tự đại, xét nét, khinh người, mà là một thứ công chính nhân hậu của Tân Ước, với một tinh thần hết sức đơn sơ bé mọn, nên thánh nhân đã chấp nhận ngay mạc khải của Thiên Chúa, cho dù mạc khải của Ngài không tỏ ra cho thánh nhân thấy giữa thanh thiên bạch nhật mà chỉ qua một giấc mộng. Thánh nhân đã mau mắn chấp nhận mạc khải của Thiên Chúa ở chỗ, như phần kết của bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: “Khi Giuse thức giấc ông đã làm như lời thiên thần chỉ dẫn và đã đón vợ về nhà mình”.

Trong câu chuyện của bài Phúc Âm hôm nay, câu chuyện Thánh Giuse định tâm âm thầm bỏ Mẹ Maria mà đi rồi sau đó đã đón Mẹ về nhà mình khi nhận được mạc khải của Thiên Chúa, chúng ta chẳng những thấy được hình ảnh của một Đấng Thiên Sai khổ nạn và tử giá, một cuộc khổ nạn và tử giá đã rọi chiếu nơi cha mẹ của Ngài ngay trước khi Người xuất hiện, mà còn thấy được cả ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa tỏ ra cho chúng ta thấy trong biến cố này nữa. Ý định đó là, muốn chấp nhận Vị Thiên Chúa Nhập Thể, tức chấp nhận Đấng Thiên Sai khổ nạn và tử giá, dù có nhận ra Người hay không, con người chẳng những phải chấp nhận thập giá khổ đau bởi Người và với Người, mà còn phải chấp nhận cả Mẹ của Người là Trinh Nữ Maria nữa. Khi Thánh Giuse “đón vợ về nhà mình” cũng chính là lúc thánh nhân đón cả “Giêsu quả phúc” trong lòng vị hôn thê “đầy ơn phúc” của thánh nhân về nhà của thánh nhân vậy.

Vấn đề thực hành sống đạo: Không một tạo vật nào trên trời dưới đất gần gũi Mầu Nhiệm Nhập Thể bằng Mẹ Maria, vì Mẹ là Mẹ của Lời Nhập Thể. Nếu con khổng long và bọn ngụy thần của hắn bị hất nhào xuống đất mất chỗ đứng của mình trên trời (xem Rev 12:8) là vì chúng không chấp nhận Lời Nhập Thể, tức không chấp nhận loài người được làm Mẹ Thiên Chúa (xem Rev 12:4), và nếu tinh thần phản kitô hay thành phần phản kitô là tinh thần và là thành phần “không chấp nhận Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” (2Jn 7; xem 1Jn 4:3), thì quả thực muốn chấp nhận hay muốn cảm nghiệm thần linh về Lời Nhập Thể, nhất là trong Mùa Vọng, phải chăng con người cần “hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ” (Mt 18:3), ở chỗ, trước hết, chấp nhận Mẹ Maria, tức đến với Mẹ để Mẹ dẫn họ đến với Chúa, vì Chúa đã thực sự nhờ Mẹ đến với loài người: Mẹ chính là Điểm Hẹn Thần Linh, nơi Thiên Chúa hẹn gặp gỡ loài người và là nơi loài người chắc chắn sẽ gặp được Ngài là Vị Thiên Chúa Làm Người trong lòng Mẹ và được hạ sinh bởi Mẹ?

7. Suy niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Chẳng lẽ Thiên Chúa nhập thể là thực hiện một việc hoàn toàn sai lầm, bất khôn và thất sách, gây hại hơn là tác lợi hay sao?

Hôm nay, Chúa Nhật IV Mùa Vọng, Phụng Vụ Lời Chúa bao gồm 2 Bài Đọc 1 và 2 cùng với bài Đáp Ca và bài Phúc Âm như mọi Chúa Nhật khác trong phụng niên. Tuy nhiên, vì Chúa Nhật IV Mùa Vọng thường rơi vào một ngày trong Tuần Bát Nhật tiền Giáng Sinh, từ ngày 17 đến đêm vọng Giáng Sinh 24/12, nên Chúa Nhật IV Mùa Vọng năm 2016 là ngày 18/12, tức ngày thứ hai trong Tuần Bát Nhật tiền Giáng Sinh. Ngoài ra, chu kỳ phụng niên từ Mùa Vọng năm 2016 thuộc về chu kỳ phụng niên Năm A, năm theo Phúc Âm Thánh ký Mathêu, bởi thế, bài Phúc Âm theo Thánh mathêu cũng chính là bài Phúc Âm cho ngày 18/12, chỉ có Bài Đọc 1 và 2 cùng bài Đáp Ca là khác.

Đúng thế, bài Phúc Âm Chúa Nhật IV Mùa Vọng Năm A cũng chính là bài cho ngày 18/12 trong Tuần Bát Nhật tiền Giáng Sinh hôm nay tiếp ngay sau bài Phúc Âm cho ngày 17/12. Vì bài Phúc Âm 17/12 ghi lại gia phả của Đấng Thiên Sai Cứu Thế, từ tổ phụ Abraham tới dưỡng phụ Giuse của Người, và hôm nay về chính vị dưỡng phụ Giuse này.

“Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse bạn của Bà là người công chính, không muốn tố cáo Bà, định tâm lìa bỏ Bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: ‘Hỡi Giuse, con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần: Bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội'”.

Theo gia phả của Đấng Thiên Sai, như chúng ta đã thấy, trong 5 người phụ nữ được liệt kê, có đến 3 người không trong sạch liên quan đến chuyện xác thịt: 1 con điếm dân ngoại và 2 người vợ ngoại tình, còn 1 người nữa là dân ngoại cũng kể như không trong sạch trước mắt dân Do Thái. Trường hợp của người đàn bà thứ năm là Maria, theo con mắt tự nhiên nói chung, nhất là trước con mắt của người chồng đã đính hôn của nàng là Giuse vốn là một “con người công chính” thì kể như nàng thậm chí còn tệ hơn nữa, vì nàng là người vợ chưa cưới nhưng đã “chửa hoang”!

Chính trong trường hợp này, trường hợp thật sự là bất khả chấp trước con mắt thế gian nói chung và những ai “công chính” nói riêng, như người chồng chưa cưới Giuse của nàng Maria, một con người luôn hết mình coi trọng và hết sức tuân giữ lề luật của Chúa với lương tâm chân chính, thì nàng Maria, đáng lẽ theo luật, cần phải bị tố cáo và bị ném đá chết, như trường hợp của người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình ở Phúc Âm Thánh Gioan (xem 8:1-11).

Thế nhưng, Thiên Chúa là Đấng vô cùng khôn ngoan thượng trí đã cố ý muốn, (chứ không phải làm ngơ để xẩy ra như vậy), câu chuyện tình duyên của hai con người phải nói là thánh thiện nhất loài người được Ngài liên kết trong tình nghĩa vợ chồng đây xẩy ra một cách vô cùng oái oăm oan nghiệt như vậy. Để làm gì? Phải chăng chỉ để khách quan cho thấy rằng: Đấy nhé, Đấng Thiên Sai là Con của Ngài được Ngài sai xuống trần gian hoàn toàn được “thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần”, chứ “không phải bởi huyết nhục, bởi ý muốn nhục dục, hay bởi ý muốn của nam nhân” (Gioan 1:13).

Ở đây, ngay trong trường hợp này, chúng ta đã thấy được bóng thánh giá của Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần, ở chỗ, vừa mới được thụ thai được ít lâu, khoảng hơn 3 tháng, tức sau biến cố thai mẫu của Người đi thăm viếng người chị họ Isave về (xem Luca 1:56), đã bị coi như là một đứa “con hoang” trước mắt trần gian, cùng với người mẹ đồng công của Người, cũng bị coi như là một người vợ chưa cưới “chửa hoang” theo cảm nghĩ của người đời.

Thế nhưng, chính vì là việc của Thiên Chúa, mà cho dù nàng Maria có linh cảm được cái nguy hiểm gây ra bởi những bất hạnh theo luật có thể xẩy ra cho nàng, vì trong thời gian đính hôn, có những lúc nàng không thể nào tránh né được chuyện gặp mặt vị hôn phu chưa cưới của nàng, nàng vẫn nhất định không hề đính chính hay tự vệ tí nào, trái lại vẫn tiếp tục hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, như nàng đã tin tưởng đến độ vô cùng liều lĩnh khi đáp lời truyền tin của thiên sứ Gabiên trong việc chấp nhận thụ thai “Con Đấng Tối Cao… Con Thiên Chúa” (Luca 1:32,35).

Quả thật, vì là việc của Thiên Chúa, nên chính Ngài đã ra tay can thiệp cho Con của Ngài cũng là cho người nữ đã được Ngài tuyển chọn từ đời đời làm người mẹ trinh nguyên thụ thai, cưu mang và hạ sinh Con của Ngài trên trần gian, như được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại.

Việc Thiên Chúa can thiệp đây đồng thời cũng là việc Thiên Chúa muốn cứu cả vị hôn phu chưa cưới của người mẹ đồng công và là vị dưỡng phụ tương lai của người con cứu chuộc này, một con người công chính đã có một quyết định, theo chủ quan, thật là bác ái yêu thương, mặc dù, theo khách quan, vẫn có thể nguy hại cho người vợ chưa cưới của ngài, ở chỗ, khi nàng sinh con mà lại không thấy chồng nàng đâu, nàng cũng bị ném đá chết thôi.

Và như thế, tất cả những gì được tiên báo về hai mẹ con được Thiên Chúa ngay từ ban đầu đã tiền định cùng nhau mang lại Ơn Cứu Độ cho trần gian (xem Khởi Nguyên 3:15) hoàn toàn được ứng nghiệm, chẳng những nhờ lòng tin của người mẹ mà còn nhờ đức công chính theo tinh thần bác ái yêu thương hơn là duy luật của vị dưỡng phụ nữa, một cặp vợ chồng thật lý tưởng của Con Thiên Chúa làm người, như được Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại:

“Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng tiên tri phán xưa rằng: ‘Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’. Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền: Ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu”.

Biến cố và sự kiện Đấng Thiên Sai Cứu Thế xuất hiện trên trần gian này không thể nào không xẩy ra, đúng như lời Thiên Chúa đã hứa với hai nguyên tổ ngay sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15). Bởi thế, không có gì có thể gây trở ngại hay làm hỏng chuyện này, như trường hợp được Phúc Âm hôm nay ghi lại ở phần đầu.

“Lời tiên tri phán xưa”, được Thánh ký Mathêu là tác giả Phúc Âm thứ nhất viết cho dân Do Thái nên bao giờ ngài cũng dẫn chứng Cựu Ước để cho dân Do Thái thấy rằng Nhân Vật Lịch Sử Giêsu Nazarét quả thực là Đức Kitô Thiên Sai của họ, chính là lời tiên tri Isaia trong Bài Đọc 1 hôm nay:

“Ngày ấy, Chúa phán bảo vua Achaz rằng: ‘Hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi, một dấu ở dưới lòng đất hay ở trên trời cao!’ Nhưng vua Achaz thưa: ‘Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử thách Chúa’. Và Isaia nói: ‘Vậy hãy nghe đây, hỡi nhà Ðavít, làm phiền lòng người ta chưa đủ ư, mà còn muốn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa? Vì thế, chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta'”.

Trong Bài Đọc 2 chính vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô cũng xác tín và loan báo cho Kitô hữu Roma về xuất xứ của một Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế là Đấng đã được tiên báo trước trong Cựu Ước qua “các vị tiên tri”, vì Người được hạ sinh theo huyết nhục Do Thái “bởi dòng dõi Đavít”, đúng như gia phả của Người được Phúc Âm Thánh ký Mathêu ghi lại trong bài Phúc Âm hôm nay, Đấng “chính là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, để nhân danh Người, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về Ðức Tin, trong đó có cả anh em là những người mà Chúa Giêsu đã kêu gọi”.

Vì “Thiên Chúa là thần linh” (Gioan 4:24) nên con người không thể nào biết Ngài nếu chính Ngài không tỏ mình ra cho họ. Mầu nhiệm Nhập Thể là tác động thần linh tỏ mình ra của Thiên Chúa “vào lúc thời gian viên mãn” (Galata 4:4), “vào thời sau hết” (Do Thái 1:2), sau khi “chính Ngài là Hoàng Ðế hiển vinh… ngự qua”, như câu thưa của Bài Đáp Ca hôm nay, “ngự qua” bằng những cách thức khác nhau cho các vị cha ông trong Cựu Ước (xem Do Thái 1:1). Nếu Ngài không nhập thể thì loài người thấp hèn hữu hình hữu hạn tự mình không thể nào biết được Ngài là ai và như thế nào.

Tuy nhiên, cho dù Thiên Chúa có “hóa thành nhục thể” (Gioan 1:14) chăng nữa, nơi Đức Giêsu Kitô Con của Ngài, chung loài người và riêng dân Do Thái của Ngài, có thể nói, lại càng khó có thể nhận biết Ngài, nhận ra Ngài nơi một con người thấp hèn như họ: “Ngài đã ở trong thế gian và nhờ Ngài mà thế gian đã đưọc tạo thành nhưng thế gian lại không nhận biết Ngài là ai. Ngài đã đến với dân riêng của Ngài nhưng dân riêng của Ngài không chấp nhận Ngài” (Gioan 1:10-11).

Vậy thì chẳng lẽ Thiên Chúa nhập thể là thực hiện một việc hoàn toàn sai lầm, bất khôn và thất sách, gây hại hơn là tác lợi hay sao? Câu trả lời cho vấn nạn nạn giải này có thể tìm thấy ngay trong Bài Đáp Ca hôm nay, trong đó, Thánh Vịnh gia trước hết đã xác tín và tuyên ngôn về đức khôn ngoan và quyền toàn năng của Vị Thiên Chúa Hóa Công tối cao rằng: “Chúa là chủ trái đất và mọi vật làm sung mãn nó, chủ địa cầu và muôn loài cư trú ở trong. Vì chính Ngài xây dựng nó trên biển cả (ám chỉ quyền năng), và Ngài giữ vững nó trên chỗ nước nguồn (ám chỉ khôn ngoan)” (câu 1).

Vì Nhập Thể cho dù bề ngoài có là một biến cố lịch sử có thật, với những nhân vật lịch sử, như được liệt kê trong gia phả của Chúa Giêsu Kitô trong bài Phúc Âm hôm qua 17/12 chăng nữa, nhất là đối với riêng cha mẹ trần gian của Người, nhưng tự bản chất là một mầu nhiệm, được Bài Đáp Ca ám chỉ như là một “cao sơn của Chúa”, là “nơi thánh của Ngài” (câu 2), chỉ có thể nhận biết bằng “đức tin tuân phục” (Roma 1:5) mà thôi: “Ai chấp nhận Ngài thì Ngài ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Gioan 1:12).

Chính vì Nhập Thể là một mầu nhiệm vô cùng cao siêu, vượt tầm mức kiến thức hạn hẹp của con người vốn hướng hạ và gian ác mà, theo Thánh Vịnh gia của Bài Đáp Ca hôm nay, muốn cảm nhận và chấp nhận mầu nhiệm nhập thể này, tức là muốn “trèo lên cao sơn của Chúa” và muốn “đứng trong nơi thánh của Ngài”, hay nói đúng hơn, muốn “tìm long nhan Thiên Chúa nhà Giacóp” (câu 3), họ cần phải là những con “người có bàn tay (ám chỉ việc làm) vô tội và tấm lòng (ám chỉ ý hướng) thanh khiết, người không để lòng xu hướng bả phù hoa”, những con người được tiêu biểu nhất trong thành phần này đó là

Suy niệm

THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

Chúa Nhật 4 Mùa Vọng năm A : Mt 1, 18-24

Suy niệm

Bài đọc 1 cho chúng ta biết, vua Akhát bị đe dọa bởi ngoại bang, nên nghĩ đến việc cầu cứu quân Assyri. Ngôn sứ Isaia đã ngăn cản và khuyên ông đừng sợ, hãy trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa hơn là cậy dựa vào liên minh quân sự. Để khuyến khích nhà vua thêm tin tưởng, Isaia cho nhà vua một dấu chỉ: “Này đây một phụ nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuen, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Lời tiên tri này ứng nghiệm ngay cho Akhát, là vợ vua thụ thai và sinh hạ một thái tử. Câu Kinh Thánh này về sau được hiểu là lời tiên tri về Đấng Mêsia sẽ được sinh ra bởi một trinh nữ. Vì thế, bản dịch 70 bằng tiếng Hy Lạp đã dùng chữ “trinh nữ” thay vì chữ “phụ nữ”, nói lên ý nghĩa nhiệm mầu trong chương trình của Thiên Chúa.

Thánh Mátthêu trích dẫn lại lời Kinh Thánh trên để xác định người trinh nữ ấy chính là Đức Maria, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh hạ Đức Giêsu cứu thế. Sự việc này diễn ra một tình tiết rất gay go, là khi Giuse biết Maria đã có thai trước khi về chung sống với mình. Để giải quyết vấn đề, ông dự tính là “đào vi thượng sách” để vẹn toàn cả đôi bên. Không những thế mà còn bảo toàn mạng sống của hai mẹ con và bảo đảm phẩm giá của Maria. Giuse được gọi “là người công chính” trước tiên ở chỗ không nhận là của mình cái gì không thuộc về mình, đồng thời tôn trọng điều mình không hiểu hết. Còn nếu như Giuse đã biết được sự thật một cách nào đó, thì việc bỏ đi cách kín đáo cũng là thái độ tôn kính mầu nhiệm Thiên Chúa đã thực hiện nơi Maria.

Theo luật người Do Thái thì Giuse phải tố cáo Maria. Đó mới là người công chính. Nhưng công chính còn có nghĩa sâu hơn khi hành động với lòng nhân từ. Giuse không coi thường lề luật của cha ông, nhưng luật cao hơn hết là luật yêu thương. Ông muốn gìn giữ danh thơm tiếng tốt cho người mình yêu dấu. Giuse có ý định bỏ đi không phải là toan tính làm theo ý mình, nhưng vì thấy điều đó phù hợp với ý Thiên Chúa. Chính vì vậy mà sau khi sứ thần truyền tin về ý định của Thiên Chúa thì ông sẵn sàng thi hành ngay, không chút lưỡng lự. Cũng như Maria biết có thể gặp nguy nan khi chấp nhận cưu mang Con Thiên Chúa, thì Giuse cũng không kể gì đến bản thân mình khi tiếp nhận Maria về nhà làm vợ.

Để Con Thiên Chúa làm người, cần tiếng Xin Vâng của Maria, nhưng không thể thiếu tiếng Xin Vâng của Giuse. Đón nhận Maria đang mang thai và đặt tên cho Hài Nhi trong tư cách một người cha, đã khiến cho Giuse có một chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử cứu độ. Thiên Chúa toàn năng, nếu Ngài đã tạo dựng thế giới chỉ bằng một lời phán, thì Ngài cũng có thể cứu chuộc loài người bằng một lời tha thứ. Nhưng Ngài đã không làm như thế, Ngài muốn hy sinh xuống thế làm người để cứu chuộc, và muốn con người cộng tác vào công trình cứu chuộc của Ngài.

Chúng ta thường tranh thủ để làm mọi thứ theo ý mình mà ít khi xét đến ý Chúa. Thuận theo ý Chúa, trước mắt có thể bất lợi cho mình, nhưng đó mới thật sự là điều có lợi sâu xa và cao cả. Tầm nhìn của chúng ta bao giờ cũng hạn hẹp, nhằm vào cái lợi cá nhân trước mắt. Chỉ có Chúa mới thấy điều có lợi nhất cho ta khi mời gọi ta hành động theo ý Ngài. Ngài muốn nâng cao chúng ta trong phẩm cách làm người và làm con Thiên Chúa, nhưng chúng ta lại muốn bảo toàn mình trong lối sống tầm thường.

Ngay trong những trường hợp cam go hay khốn khó nhất, thì cũng hãy tin rằng, Chúa vẫn ở cùng chúng ta, vì danh Ngài là Emmanuen. Có “Thiên Chúa ở cùng” hay “ở với” là điều làm cho con người trở nên phi thường. Trong Kinh Thánh, khi Thiên Chúa chọn ai hay sai ai đi thi hành sứ mạng, thì luôn có lời hứa bảo đảm là “Ta ở với ngươi”. Lời chúc phúc lớn lao nhất cũng là “Có Chúa ở cùng”. Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì, hỏi người đời làm chi tôi được? (Tv 118,6). Đức Maria diễm phúc vì có Thiên Chúa ở cùng. Trước khi về trời, Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Xác tín sâu xa điều này, ta không còn phải lo sợ gì nữa, để có thể thoát ra khỏi mọi ràng buộc và bứt phá mọi giới hạn để sống theo ý Chúa.

Hướng về lễ Giáng Sinh, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể làm người và nhập thế để cứu chuộc. Tất cả mầu nhiệm đều gói gọn trong câu: “Lạy Thiên chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 7). Giữa một thế giới đầy những ồn ào và xáo trộn, ta chỉ có thể nghe được tiếng Chúa trong thinh lặng nội tâm. Hôm nay có thể Chúa không nói với ta qua giấc mơ, nhưng qua nhiều cách khác, rất riêng tư, chỉ mình ta cảm nhận. Nếu ta dám bất chấp sự an toàn của bản thân mình để mau mắn nói tiếng Xin Vâng như Đức Maria và như thánh Giuse, ta sẽ góp phần với Chúa vào việc cứu độ cả thế giới.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu!
Lời hứa năm xưa nay đà ứng nghiệm,
khi Chúa sinh ra bởi Đức Nữ Trinh,
nhờ quyền phép của chính Chúa Thánh Linh,
Ngài nhập thể để cứu nhân độ thế.

Thánh Giuse ngay từ đầu không biết,
nên âm thầm đã dự định bỏ đi,
nhưng khi ngài biết được là thánh ý,
liền sẵn sàng vui đón nhận thực thi.  

Để Ngôi Lời xuống làm người thật,
cần có tiếng Xin Vâng của hai đấng,
và các ngài không xá kể bản thân,
từ bỏ hết để góp phần với Chúa.

Con tin rằng trong cuộc sống hôm nay,
Chúa vẫn luôn mời gọi con mỗi ngày,
qua Lời Chúa qua biến cố đổi thay,
qua rủi may hay buồn vui sướng khổ.

Chúa vẫn luôn hiện diện trong mọi chỗ,
vẫn đồng hành và nâng đỡ hộ phù,
nhất là cho những ai đang khốn khổ,
vì danh Ngài là Em-ma-nu-en.

Xin Chúa thương ở cùng con trọn vẹn,
dẫu đời con vẫn có những hư hèn,  
để từ đây con dứt bỏ mọi bon chen,
sống cho Chúa như lời xưa ước hẹn.

Cũng như thánh Giu-se và Đức Mẹ,
cho chúng con biết tập chú lắng nghe,
nghe tiếng Chúa trong mọi nơi mọi lúc,
và sẵn sàng đáp trả tiếng “xin vâng”,
để hôm nay Chúa đến với cuộc trần,
đem an bình cho tất cả thế nhân. Amen.

Lm. Thái Nguyên

*Xin bấm vào đọc Kinh Phụng Vụ.

*Xin bấm vào nghe chia sẽ Lời Chúa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: